Các bài suy niệm CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN - C
Tài liệu về Lời Chúa
***********************************************
+++
Lời Kinh Tuyệt Vời
Lc 11,1-13
Hôm nay Ðức Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện bằng lời kinh Lạy Cha. Người muốn chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha, sống tâm tình con thảo và tin tưởng phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Người muốn chúng ta cầu nguyện cho vinh danh Thiên Chúa và cho những nhu cầu cơ bản của chính chúng ta. Tuy nhiên, không phải là chúng ta xin điều gì thì được điều ấy. Thiên Chúa nhân lành không bao giờ ban điều xấu cho con cái Người là chúng ta. Quà tặng cao quý nhất là Chúa Thánh Thần, Ðấng bảo trợ và nâng đỡ chúng ta.
Nguyện cho danh Cha cả sáng, lời nguyện đầu tiên xin cho Thiên Chúa được mọi người nhận biết, tôn thờ Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau.
Nguyện cho Nước Cha trị đến, lời nguyện thứ hai xin cho Nước Cha, "nước công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần" (Rm 14,17). Nơi nào có công chính, có bình an, có hoan lạc trong Thánh Thần, nơi đó là Nước Thiên Chúa. Công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần càng lan rộng thì con người lại càng được hạnh phúc.
Nguyện cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời, lời nguyện thứ ba xin cho ý Thiên Chúa được thực hiện. Thiên Chúa muốn mọi người được bình an, hạnh phúc và nhất là được cứu độ. Ý muốn của chúng ta thường hẹp hòi, ích kỷ, vì chúng ta nghĩ đến mình quá nhiều. Nhưng Thiên Chúa thì khác. Hơn nữa, Thiên Chúa biết chúng ta cần thiết những gì.
Xin cho chúng con hôm nay có cơm ăn áo mặc đầy đủ mỗi ngày là lời nguyện thứ tư. Giàu có quá hoặc nghèo khó quá là hai thái cực. Cha ông chúng ta đã chẳng từng nói "no nê sinh dâm dật, túng bấn sinh đạo tặc" đó sao ? Ðức Giêsu muốn tránh cho chúng ta những nguy hiểm tiềm ẩn. Người muốn chúng ta thanh thoát, đừng quá lo toan vật chất mà hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa, vì như hoa huệ ngoài đồng Thiên Chúa cũng nuôi.
Xin tha nợ chúng con là lời nguyện thứ năm. Con người ở đời không ai là hoàn hảo cả, không lỗi này thì lỗi khác, không tội lớn thì tội nhỏ. Như thế, con người mang gánh nặng, mang nợ. Con người cần Thiên Chúa tha nợ. Nhưng điều kiện để được Thiên Chúa tha thứ là con người cũng phải biết bỏ qua cho anh em mình "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con".
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ là lời nguyện thứ sáu. Cám dỗ là một thực tế trong đời người. Bao lâu con người còn sống, bấy lâu còn cám dỗ. Cám dỗ đến từ bên ngoài, do người khác, do hoàn cảnh; cám dỗ đến từ bên trong, do chính nội tâm, thâm sâu mỗi người.
Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ là lời nguyện thứ bảy. Sự dữ là những gì không tốt xảy đến cho con người, là bị tai nạn, bị thiệt hại, bị hãm hại... nói chung là điều xấu. Xin Thiên Chúa gìn giữ chúng ta luôn bình an, hạnh phúc.
Kinh Lạy Cha là lời kinh duy nhất Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện. Khi đọc lời kinh này trong tâm tình con thảo, đọc chậm rãi, vừa đọc vừa suy niệm, chúng ta làm phong phú đời sống tâm linh của mình mỗi ngày.
Lạy Cha trên trời
là Cha chúng con.
Chúng con dâng Cha tâm tình ngợi khen,
chúc tụng, thống hối và nguyện xin.
Chúng con nguyện cho mọi người nhìn nhận Cha
là Chủ tể trời đất muôn vật,
là Ðấng thống lãnh, điều khiển lịch sử nhân loại.
Chúng con nguyện
cho sự công chính, bình an
và hoan lạc trong Thánh Thần ngự trị khắp mọi nơi.
Chúng con xin dâng ý riêng con
để cầu cho thánh ý Cha được thành tựu khắp nơi.
Xin cho chúng con
trở nên những người nghèo khó,
biết chấp nhận cuộc đời,
biết chấp nhận con người.
Xin gìn giữ chúng con luôn được bình an, hạnh phúc.
Amen.
Như Hạ, OP
LẠY CHA CHÚNG CON
Lc 11:1-13
Cầu nguyện là một nhu cầu đặc biệt. Tôn giáo được lập ra để đáp ứng nhu cầu căn bản và lớn lao đó. Cầu nguyện là một hành vi cao cả nhất của con người và đặc tính xác định bản chất và giá trị con người. Tất cả tinh túy Kitô giáo đều tìm thấy trong lời kinh "Lạy Cha ." (Lc 11:2)
CẦU NGUYỆN LÀ LẼ SỐNG.
Ðức Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện. Nói khác, chính Chúa đã dẫn các môn đệ đi vào tương giao sâu xa với Chúa Cha. Khi đã bắt được tương quan sâu xa đó, họ sẽ không còn thấy một cản trở nào và cũng chẳng cần một trung gian nào nữa. Sự thánh thiện không làm Chúa xa lạ với những nhu cầu con người. Quyền năng tuyệt đối không khiến Người độc đoán và cao ngạo trước số kiếp lầm than của nhân loại. Vấn đề là con người có dám thưa "lạy Cha" với Ðấng Tạo Hóa hay không. Càng gần Thiên Chúa, con người càng thánh thiện vì "danh Người thật chí thánh chí tôn." (Lc 1:49) Sự thánh thiện của tín hữu làm vinh danh Thiên Chúa, vì phản ánh vinh quang Thiên Chúa. Chính vinh quang đó đã chiếu tỏa mãnh liệt trên dung nhan Ðức Giêsu, Ðấng khai mạc triều đại Thiên Chúa. Bởi vậy, xin cho "Triều Ðại Cha mau đến," (Lc 11:2b) nghĩa là xin cho ơn cứu độ mau thành tựu nơi nhiệm thể Ðức Giêsu.
Ðó là chiều kích cánh chung của kinh "Lạy Cha". Chiều kích cánh chung phải gắn liền với chiều kích "hôm nay" (Lc 19:9 tt) với những nhu cầu rất thực tiễn của cuộc sống cộng đoàn và cá nhân. Quả thế, thực tế chừng nào khi Chúa dạy chúng ta "xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy." (Lc 11:3) Lời cầu nguyện phát xuất từ niềm tin. Niềm tin không xa rời thực tế để chỉ cắm chặt vào những thực tại trên trời. Trái lại, niềm tin cho thấy ngay cả những nhu cầu hiện tại con người cũng tùy thuộc vào lòng từ bi và quyền năng Cha trên trời. Bởi thế, cầu xin Cha ban cho lương thực hằng ngày là điều hợp lý.
Phải chăng lương thực hằng ngày chỉ đáp ứng cho những nhu cầu cấp bách ? Nếu thế, làm sao con người bắt kịp tốc độ triều đại Chúa đang đến ? Quả thực, cần phải có một thứ lương thực tương lai, tức là Thánh Thể, để con người có thể nếm trước và nhập tiệc cánh chung với Chúa. Cả hai thứ lương thực trần gian và thiên quốc đều cần thiết cho cuộc sống hiện tại và tương lai. Tình yêu Thiên Chúa tràn ngập trong những lương thực này. Thiên Chúa lo lắng cho cuộc sống con người. Người muốn con người thực sự hạnh phúc ngay trong phút giây hiện tại. Hạnh phúc đó không dừng lại trong hiện tại và phải vượt qua ranh giới cánh chung, để tìm đến hạnh phúc đích thực trong Thiên Chúa. Chỉ có lương thực tương lai mới bảo đảm những bước tiến đó mà thôi. Không có lương thực tương lai, lương thực hiện tại hoàn toàn bất lực trong việc chuẩn bị con người nhập tiệc vui với Chúa.
Căn cứ vào đâu biết Thiên Chúa lo lắng đến tương lai chúng ta ? Nếu Người không lo lắng đến hạnh phúc con người, chắc chắn không bao giờ Người được gọi là "Cha". Ðúng hơn, Người vượt trên mọi người cha trần gian trong việc thi thố tình yêu đối với con cái. Ðức Giêsu quả quyết : "Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao ?" (Lc 11:13) Chỉ những người có đức tin mới có thể thấy được sức nặng của lời quả quyết đó. Quả thực, đức tin mạc khải rõ Cha quan tâm sâu xa đến nhu cầu đời sống hằng ngày của mỗi người chúng ta.
Nhưng tình yêu Thiên Chúa không chỉ thể hiện qua lương thực hằng ngày, dù là vật chất hay thiêng liêng. Tình yêu Chúa chính là sức mạnh cứu độ. Cứu độ có nghĩa là tha thứ. Chính vì thế, Ðức Giêsu không quên dạy chúng ta xin Cha "tha tội cho chúng con." (Lc 11:4) Ðây là một lời cầu xin quan trọng. Vì nếu không được tha thứ, chúng ta vẫn còn là thù địch của Thiên Chúa. Như thế, làm sao chúng ta có thể sống hạnh phúc ? Không có Chúa, chúng ta sẽ hoàn toàn mất bình an. Chính vì thế "Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta." (Cl 2:13) Một bằng chứng rõ ràng là "Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Ðức Kitô." (Cl 2:13) Nói khác, Thiên Chúa đã giao hòa với chúng ta trong Con Một Chí Ái Người.
Nhưng cuộc giao hòa này không chỉ có một chiều. Nói khác, không thể xin Cha tha thứ nếu chính chúng ta không tha thứ cho anh em. Bởi vậy, sau khi "xin tha tội cho chúng con", chúng ta phải thưa ngay : "vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con." (Lc 11:4) Cuộc sống hằng ngày với những tương quan chằng chịt lại có sức tạo một nền tảng vững chắc cho lời cầu xin tha thứ tự trời cao. Hai chiều ngang dọc liên đới với nhau trong một huyền nhiệm tình yêu tuyệt vời. Tinh thần Kitô hữu không thể rời xa mối liên đới sâu xa đó.
Sau cùng, trước những hiểm nguy tiến về nhà Cha, con người không thể không cần đến sức mạnh cứu độ của Chúa. Ðức Giêsu chính là sức mạnh đó. Thực tế, chúng ta "đã cùng được mai táng với Ðức Kitô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi đậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Ðấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết," (Cl 2:12) Chỗi dậy với Người tức là thoát ách tử thần mà bước vào cõi hằng sống. Ðó là cơn thử thách lớn nhất con người không thể vượt qua được nếu không nhờ sức mạnh Chúa Thánh thần. Chính vì thế, Ðức Giêsu mới quả quyết Cha trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người (Lc 11:13) . Thánh Thần là bảo đảm lớn nhất và vững chắc nhất cho những ai đang đặt tất cả niềm hi vọng nơi Thiên Chúa.
Nhưng muốn lãnh nhận được Thánh Thần, cần phải kiên trì cầu nguyện hằng ngày. Lời cầu xin hằng ngày cũng là một thách đố lớn. Không phải lúc nào cũng đón nhận kết quả mau lẹ như ý muốn. Nhiều khi kéo dài hằng mấy chục năm. Ðiển hình là trường hợp thánh nữ Monica. Nhờ ơn Chúa, thánh nữ đã vượt qua thử thách đó và đã chứng kiến sức mạnh lời cầu nguyện nơi Augustinô. Chắc chắn thánh nữ đã hiểu rõ dụ ngôn về người bạn quấy rầy và lì lợm trong Tin Mừng Lc 11:5-8. Chúa quá yêu thương chúng ta, không thể cầm lòng nổi trước tiếng nài van khẩn thiết của đoàn con bé mọn. Khác hẳn với các người cha trần gian, Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Tình yêu đó đã hoạt động mãnh liệt ngay từ Giáo hội tiên khởi. Thánh Thần là một bảo chứng lớn lao của tình yêu đó và là một tặng phẩm tuyệt vời Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội.
Giáo hội tiên khởi may mắn được Mẹ Maria hợp lực nài xin Chúa sai Thánh Thần. Các tông đồ đã xác tín tuyệt đối vào lời Chúa : "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho." (Lc 11:9) Chúa đã nhận lời Ðức Mẹ và các tông đồ vì các ngài là những người công chính. Sự công chính là một sức mạnh kéo Thiên Chúa chú ý đến lời cầu nguyện. Từ xưa, Abraham cũng đã được Chúa lắng nghe vì là người công chính. Lời cầu nguyện của ông giống như một sự mặc cả. Từ con số năm mươi người lành, ông đã rút dần xuống mười người để cứu vãn thành Xơđôm. Thật là đơn sơ và chân thành ! Không ngờ Chúa cũng chấp nhận tất cả những đề nghị của ông Abraham. Ngày nay, nếu có phải "mặc cả", chúng ta không mất công "cò kè bớt một thêm hai" như kiểu Abraham. Chúng ta đã có một thế lực rất lớn là giá máu Thánh Tử Chí Ái là Ðức Giêsu. Ðức Giêsu là người công chính. Người công chính nói gì Chúa cũng lắng nghe. Bao lâu sống bất chính và bất công, chúng ta không xứng đáng dâng lên Chúa một lời nguyện nào, chứ đừng nói đến chuyện được Chúa chấp nhận. Thánh Phaolô đã vạch trần sự thật : "trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã." (Cl 2:13) Nhưng giờ đây "Người đã xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta. Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá." (Cl 2:14) Thế là chúng ta an tâm khi dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa.
CỘNG ÐỒNG CẦU NGUYỆN.
Lời cầu nguyện được thốt lên từ lòng người và trong cộng đồng. Con người được kêu gọi để làm thành những cộng đồng cầu nguyện, tức là tôn giáo. Càng cầu nguyện, càng thấy mình phải hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Cá nhân hay tập thể đều thấy mức độ lệ thuộc lớn lao đó. Ðứng trước nhan Chúa, cá nhân có những ưu thế hơn tập thể, vì có thể chìm sâu trong tương quan vô tận với Thiên Chúa. Nhưng cá nhân vẫn cảm thấy thiếu thốn và cần đến chiều kích cộng đồng trong lời cầu nguyện. Bởi đấy, trong lời kinh Lạy Cha, Ðức Giêsu đã dạy chúng ta phải cầu nguyện trong thế liên kết với anh em. Nói khác, người ta không thể đọc kinh Lạy Cha trong tư thế cá nhân. Cầu nguyện Kitô giáo luôn mang tính cộng đồng. Dù cầu nguyện một mình, người tín hữu cũng đọc : "Lạy Cha chúng con ." Ðúng hơn, Giáo hội là một cộng đồng cầu nguyện với Thiên Chúa. Cộng đồng có nhiều cách sống niềm tin. Nhưng cầu nguyện là cách thể hiện niềm tin mãnh liệt nhất của cộng đồng.
Ngày nay cộng đồng niềm tin đang bị cản trở cầu nguyện dưới mọi hình thức. Khi không tôn trọng tự do tôn giáo, các chính quyền độc tài đã khinh thường và chà đạp nhân phẩm con người. Tôn giáo là cao điểm của mọi hoạt động nhân loại. Tôn giáo nâng cao con người trên vạn vật. Chỉ con người mới có tôn giáo. Nói khác, nếu không có tôn giáo, con người hoàn toàn giống con vật với những nhu cầu trước mắt mà thôi. Bởi thế, "tự do tôn giáo là một trong những cách diễn tả cao độ nhất lòng kính trọng nhân phẩm con người." (CWNews 23/7/2001) Không tôn trọng tự do tôn giáo, các giá trị khác sẽ bị đe dọa trầm trọng.
Tôn giáo không tách rời khỏi cuộc sống và không phải là một cản trở bước tiến nhân loại. Trái lại, càng sống niềm tin tôn giáo, người ta càng cảm thấy liên đới và thấy rõ hướng tiến của nền văn minh. Thực vậy, có lẽ vì thấm nhuần tinh thần Kinh Lạy Cha, "Hoa Kỳ đã nêu gương trong việc xóa nợ cho 18 nước Phi châu." (Tổng thống Abdoulaye Wade, Senegal, CWNews 24/7/2001) Theo Tổng thống Wade, "các nước giàu đang bắt đầu lắng nghe những đòi hỏi thúc bách của những nước nghèo. Ðến lượt mình, các nước trong thế giới thứ ba phải có những cam kết cụ thể nhập cuộc vào tiến trình toàn cầu hóa." (CWNews 24/7/2001) Tiến trình toàn cầu hóa phải làm cho mọi người liên đới với nhau trong trách nhiệm và quyền lợi như Kinh Lạy Cha đã vạch ra. Nếu không liên đới như thế, nhân loại sẽ không tránh được tai họa tự hủy diệt. Ðó là sự dữ lớn nhất chúng ta phải cầu xin hằng ngày.
Con đường dẫn tới sự dữ đó chính là cám dỗ đang vây bọc quanh ta. Bởi đấy chúng ta không ngừng thưa với Chúa : "Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ." (Lc 11:4) Cám dỗ là sản phẩm của "văn minh sự chết", đối nghịch với "văn minh sự sống". Trước những cám dỗ thời đại như việc tạo sinh vô tính con người hay cuộc nghiên cưú lấy tế bào gốc từ phôi thai người, chúng ta phải cầu nguyện cùng Cha trên trời ban cho nhân loại khả năng liên đới với nhau để xây dựng "nền văn minh sự sống". Hiện tại, "nền văn minh sự sống" đang gặp nhiều vấn đề. Trong niềm tin, Kitô hữu xác tín rằng "Ðức Giêsu Kitô là giải pháp duy nhất giải quyết những vấn đề thế giới hôm nay. Tin Mừng là liều thuốc chữa trị những khủng hoảng của một xã hội đầy ?tự mãn và thất vọng?, và đó cũng là nguồn gốc phát sinh một ?cuộc cách mạng văn hóa? cần thiết cho việc phát triển các dân tộc Miền Nam thế giới." (CWNews 24/7/2001) Nhưng giải pháp duy nhất đó chỉ đến với nhân loại khi tất cả đều nhất trí cầu nguyện: "Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, Triều Ðại Cha mau đến" (Lc 11:2) nơi Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu độ duy nhất của toàn thể nhân loại. Maranatha ! Lạy Chúa, xin mau đến !
Fr.Jude Siciliano,OP.
Cầu nguyện
Lc 11,1-13
Thưa quí vị,
Có lẽ mọi người đã được nghe về sự tích thành Sôđôma và Gômôra. Hai thành cổ xưa đứng biểu tượng cho mọi giống tội lỗi. Những người còn tư cách, còn lương tâm chẳng bao giờ muốn đến cư ngụ hoặc tham quan hai thành ấy. Ngày nay muốn nguyền rủa phần đất nào hay thành phố nào người ta so sánh nó với Sôđoma và Gômôra và chúc dữ cho nó bị tàn phá bình địa như hai thành ấy. Có điều lạ là trong bài đọc sách Khở? nguyên hôm nay, Chúa không đòi hỏi hai thành ấy phải xám hối, mặc áo nhặm và rắc tro trên đầu mà chỉ cần ông Abraham tìm ra 10 người công chính. Nếu ông tìm được, toàn dân cư của thành sẽ được tha, thành không bị tàn phá nữa. Liệu những người công chính sống giữa chúng ta có cứu chúng ta khỏi bị tiêu diệt không ? Có lẽ là khỏi bàn tay báo oán của Thiên Chúa, nhưng không thể khỏi chính những bàn tay của chúng ta ! Những tiếng kêu của những nhà thức thời trên đất nước này có cứu chúng ta khỏi những vô độ về bạo lực, về thù oán giang hồ, về hưởng lạc, về tai họa môi sinh ?.Liệu những tiếng dai dẳng của lương tâm mời gọi chúng ta bỏ đường tội lỗi, đường tự hủy để quay về với Thiên Chúa có được mọi người lắng nghe ? Một số ít người Do thái sống rải rác trên khắp các đế quốc lúc bấy giờ đã nhận ra mình có nhiệm vụ thức tỉnh mọi người quay về thờ phượng Thiên Chúa. Mặc dù chỉ là thiểu số nhỏ bé, chẳng có ý nghĩa gì trước đại dương mênh mông các dân tộc chung quanh nhưng họ đã là ánh sáng soi chiếu vào bóng tối của một thế giới thờ hàng ngàn thần tượng gỗ đá hoặc thờ chính mình trong các dục vọng thấp hèn .
Như thế thì câu chuyện hôm nay thật là hấp dẫn, Abraham và Sara đã được Thiên Chúa viếng thăm dưới dạng ba người lữ khách (Giavê và 2 người bạn?) Abraham đã tiếp đãi các vị nồng hậu, và sau đó Chúa đã báo cho Sara có con trai trong vòng một năm, mặc dù cả hai đã gìa, qúa tuổi sinh nở. Abraham đã tiễn chân ba vị đi về phía thành Sôdôma, và sau mấy phút suy tư Chúa quyết định cho ông biết chương trình phá hủy thành phố. Abraham can thiệp, cầu xin cho các thành phố, chỉ một vài người công chính là đủ để cứu nguy cho dân chúng trong thành, nhưng chẳng có, thế là thành bị phá hủy, dân cư bị tiêu diệt ! Ai sẽ cứu chúng ta, cứu Giáo hội khỏi số phận tương tự ?
Khi nghe câu hỏi tự dưng bạn sẽ mỉm cười trả lời : thì còn ai nữa , những người công chính ! Nhưng chính xác là ai thì bạn lại chẳng biết. Người Do thái sẽ trả lời rõ cho bạn. Hậu duệ của Abraham. Trong bài đọc thứ nhất Abraham đứng ra can thiệp cho thành Sôđôma, trong bài đọc thứ hai đó là chính Chúa Giêsu. Theo Th.Luca, thì Chúa Giêsu đã cầu nguyện rất nhiều, và cầu nguyện một cách lạ lùng đến độ các tông đồ phấn khởi, xin Chúa dậy cho mình cũng cầu nguyện được như thế.
Tuy nhiên để nắm bắt phần nào cách cầu nguyện của Chúa Giêsu chúng ta hãy trở lại câu chuyện của ông Abraham. Ông đi song đôi với Chúa như một người bạn hữu, mặc cả với Chúa cho dân thành Sôđôma như chúng ta mặc cảmột món hàng giữa chợ và ông đã được nhận lời , Chúa đã nhân nhượng ông chứ không phải ông nhân nhượng Chúa. Cử chỉ can đảm thương lượng của ông làm Chúa mềm lòng và chúng ta thán phục. Chẳng có thần thánh nào trên thế gian này giống như thần thánh của ông Abraham, thân mật và rộng lượng. Ông đứng trước mặt Chúa như một tiên tri, cầu khẩn cho những người công chính khỏi chết và Chúa đã cho gia đình ông sống sót một cách lạ lùng. Bất cứ thần linh nào trên mặt đất cũng phải ngạc nhiên trước cảnh nài nỉ của Abraham.
Chúa Giêsu cũng cầu nguyện như vậy trên con đường Ngài lên Giêrusalem: Ngài đã cầu nguyện liên tục trong mỗi chặng đường đi . Có nhiều kẻ theo Ngài và Ngài không rời xa các môn đệ . Chắc chắn là họ đã từng cầu nguyện theo thói tục Do thái, nhưng nơi Chúa Giêsu họ khám phá ra có cái chi đó đặc biệt, một mối liên hệ thân mật và khăng khít giữa Ngài và Thiên Chúa. Họ mạnh dạn tiến lại:"Xin Thầy dậy chúng con cầu nguyện."Thánh sử Luca đa thu thập những lời cầu nguyện của Ngài trong một kinh duy nhất:"Lạy Cha chúng con ở trên trời.". Nhưng ở đây chúng ta thấy khác với kinh của thánh Matthêu ? Vậy thì ai đúng ai sai ?
Hình như các tác gỉa viết sách tin mừng chẳng để ý mấy đến công thức chính xác của lời kinh, các ngài chú ý nhiều hơn đến tinh thần mà lời kinh chứa đựng. Có lẽ đây là điều họ học được từ Chúa Giêsu. Họ xin Ngài dậy cho họ biết cầu nguyện, chứ không xin dậy cầu nguyện cái chi, cho nên Ngài dậy ngay họ tâm tình cầu nguyện thân mật với Chúa Cha:"Lạy Cha chúng con ở trên trời.". "Abba" là tiếng của con trẻ gọi cha mình, chẳng còn chi hiếu thảo và thân mật hơn. Ðó là phương thức chúng ta phải cầu nguyện. Abraham cầu nguyện như nói chuyện với một người bạn chí thân. Chúa Giêsu cầu nguyện như thưa gởi với một người cha yêu dấu. Ngài giữ mãi tâm tình này trong suốt cuộc hành trình lên Giêrusalem và ngay cả trên cây thánh gía: Cha ơi, sao Cha bỏ con !
Hằng ngày chúng ta ký thác vào tay cha mẹ để được cơm ăn, áo mặc và chúng ta chẳng bao giờ thất vọng. Hằng ngày người môn đệ Chúa phải tỏ bày sự lệ thuộc và tin tưởng vào Ngài để có bánh ăn. Như thế thì đói khát thế nào được ! Chúa chẳng thể thua lòng quảng đại của các bậc cha mẹ nhân loại ! Có chăng, là do bởi chúng ta yếu lòng tin cậy, nghi ngờ quyền phép Chúa. Cô Patricia D.Sanchez nói với các thính gỉa của cô thế này:"Bánh này được luôn luôn phân phát và mỗi khi chúng ta xin là chúng ta liên tục tỏ bày sự lệ thuộc của chúng ta vào Chúa để được sống, chúng ta được chúc lành, được nâng đỡ, hôm nay, ngày mai và cho đến muôn đời". (Cử hành thánh lễ tháng 7 năm 2001).
Có hai dụ ngôn để minh họa cho lời giảng dậy của Chúa Giêsu. Dụ ngôn thứ nhất là người bạn có nhu cầu vào lúc nửa đêm. Ông biểu trưng cho sự kiên trì, bền chí .Chẳng phải rằng chúng ta cần nói cho Chúa biết những nhu cầu của chúng ta. Ngài đã vững trong lời kêu xin. Cầu nguyện là lợi ích cho chúng ta hơn lợi ích cho Chúa. Nếu không kiên trì thì tính nhẹ dạ sẽ đưa chúng ta đến van xin hết ông bụt này đến bà chúa kia, đi lang thang khắp cùng trời đất để thỏa mãn những nhu cầu của mình. Trái với người đàn ông nằm ngủ trên giừơng. Thiên Chúa không hề làm ngơ trước những nhu cầu của chúng ta, người nhậy cảm với những thiếu thốn của con cái Ngài hơn cả các cha mẹ thế gian, vấn đề là cầu nguyện không giống như tắt mở công tắc điện mà phải liên tục kêu xin, gõ cửa để dậy cho mình tính lệ thuộc Thiên Chúa trong hết mọi sự. Bàn tay yêu thương của Ngài sẽ ban phát cho chúng ta những ơn lành chúng ta cần đến. Xin luôn luôn nhớ là Chúa biết phải ban ơn gì và ban lúc nào và như thế là tốt nhất cho chúng ta, không cần phải sai khiến Ngài .
Dụ ngôn thứ hai nói rõ hơn về lòng nhân lành của Chúa. Cha me ?hế gian không đời nào lấy rắn thay vì con cá, bọ cạp thay vì qủa trứng mà cho con cái khi nó van xin, cũng vậy Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những ơn lành tốt nhất từ kho tàng tình thương của Ngài. Bà Elizabeth A.Johnson liệt kê ba ơn thiêng chúng ta thường được qua cầu nguyện.
1/. Sự gần gũi với TC. Khi không cầu nguyện chúng ta tưởng tượng TC ngự nơi xa tắp, trên trời xanh hay trên những ngọn núi cao. Thực sự, Ngài ngự nơi tâm hồn chúng ta là chính,Ngài là TC hằng sồng, chúng ta sống ở trong Ngài, hiện hữu ở trong Ngài, ý thức sự hiện diện của Ngài trong tâm hồn.
2/. TC không dửng dưng trước những đau khổ của loài người, Ngài luôn bênh đỡ, ủi an các tù nhân, người bị áp bức, ban cho họ sự tự do nội tại mà không một ai có thể cướp đi được, sự giải cứu của họ chỉ có thể được nơi cánh tay dũng mãnh của TC như dân tộc Israel đã từng kinh nghiệm xưa.
3/. Nhịp cầu liên kết giửa TC với chúng ta. Nhịp cầu thường bị tỗi lỗi, thói hư nết xấu bẻ gẫy, nhưng qua cầu nguyện Chúa Thánh Thần sẽ hàn gắn lại, Ngài ban cho nhân loại lòng thống hối ăn năn, biết nhận lỗi mình mà kêu xin lòng thương xót Chúa. Chúa Thánh Thần sẽ hoạt động giúp chúng ta thắng vượt mọi chia rẽ, mọi nghi nan để đoàn kết nên một trong công bình và bác ái .
Tóm lại, các bài đọc thánh lễ hôm nay nêu lên trước mắt chúng ta những mẫu gương cầu nguyện. Ông Abraham nài nỉ trược nhan Chúa cho thành Sôdôma và Chúa Giêsu dạy các môn đệ Ngài phải cầu nguyện thế nào cho được nhận lời. Ngài bảo đảm với nhân loại có một lời cầu xin luôn được chấp nhận. Ðó là Chúa Thánh Thần. Nếu chúng ta đầy lòng trông cậy mà kêu xin, Chúa Thánh Thần luôn ngự xuống linh hồn, dậy chúng ta biết xin gì, xin thế nào và khi nào vì Ngài chính là một ân huệ luôn được ban phát. Ngài chẳng làm thất vọng một ai . Amen.
G. Nguyễn Cao Luật, OP
LỜI KINH ÐẦY TÂM TÌNH
Lc 11,1-13
Không chỉ là một thái độ, nhưng là một tình trạng
Không xác định nơi chốn, thánh Lu-ca mô tả Ðức Giêsu đang cầu nguyện, có các môn đệ vây quanh. Ðâu là lời cầu nguyện đích thực của Vị Thầy ? Khác với lời cầu nguyện của nhà khỗ chế Gio-an Tẩy Giả trong sa mạc, vị ngôn sứ rao giảng sự sám hối, lời cầu nguyện của Ðức Giêsu bày tỏ bí mật thâm sâu trong mối tương giao thân mật của Người với Chúa Cha. Ngoài việc tuân thủ nghi thức và thói quen của người Do-thái, Ðức Giêsu cho thấy lời cầu nguyện còn có ý nghĩa sâu xa hơn nhiều.
Ðức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha rất lâu giờ và cũng tràn đầy tình yêu mến. Sau cả ngày mệt nhọc với những hành trình rao giảng, chữa bệnh, Ðức Giêsu vẫn thường rút lui vào chốn thinh lặng để cầu nguyện. Dường như Người có thể bỏ việc này việc khác, nhưng không thể bỏ việc cầu nguyện. Ðó là những thời khắc Người tiếp xúc thân mật, tiếp xúc rất riêng tư với Chúa Cha ; trong đó Người thông hiệp trọn vẹn với Chúa Cha, đi sâu vào chương trình huyền nhiệm, và gắn bó trọn vẹn với thánh ý của Chúa Cha. Có lần, dân chúng và cả các môn đệ, đi tìm Ðức Giêsu. Các ông gặp thấy Người trong trạng thái đầy vui mừng, hân hoan ... Các ông không dám đến gần, không dám lên tiếng ... nhưng cuối cùng các ông cũng xin Người chỉ cho cách thức cầu nguyện.
Một tư cách mới, một ý nghĩa mới
Lời cầu nguyện Ðức Giêsu đưa các ông vượt khỏi suy nghĩ bình thường của các ông. Lời cầu nguyện có vẻ như cao ngạo, gây gương mù : Ðức Giêsu truyền cho các ông gọi Thiên Chúa là Cha, Ðấng mà xưa nay họ vẫn hết mực tôn kính, ngay cả việc gọi tên, các ông cũng không dám.
Từ nay trở đi, người nào liên kết với tiếng kêu đầy yêu thương của Ðức Giêsu, hướng về Chúa Cha, người đó đã làm cho Nước Thiên Chúa được thực hiện. Họ cũng làm cho danh Thiên Chúa được hiển thánh khi họ biết trao đổi với Thiên Chúa trong tình yêu, một cuộc trao đổi đưa họ vào chính trung tâm của lòng thương xót được tặng ban cho hết mọi người.
Bài suy niệm này không đề cập đến các lời cầu xin trong lời kinh Ðức Giêsu dạy cho các môn đệ, mặc dù những lời cầu xin ấy có nhiều ý nghĩa. Ðiều muốn nói đến ở đây là một mối tương giao, một tinh thần mới giữa con người và Thiên Chúa. Trong Ðức Giêsu, con người được biết Thiên Chúa là Cha của mình, và họ phải đến với Thiên Chúa trong tâm tình của một người con. Trong Ðức Giêsu, Ðấng nhập thể làm người, nhân loại được gọi Thiên Chúa là Cha, Cha của tất cả mọi người. Ðầy cũng là mặc khải mấu chốt trong sứ điệp của Ðức Giêsu, là chìa khoá cho tất cả cuộc đời và hoạt động của Người. Trong mặc khải này, lề luật của Ít-ra-en được hoàn tất và nảy sinh một giao ước mới : Thiên Chúa trở thành người Cha thân yêu của tất cả mọi người.
Như vậy, so với Cựu Ước, lời kinh của Ðức Giêsu mở ra một viễn tượng lớn lao, hoàn toàn mới mẻ. Thiên Chúa đến với con người không phải để dò xét, để trừng phạt, nhưng là để đem ơn cứu độ, đem ơn tha thứ và tình yêu thương. Ngược lại, con người đến với Thiên Chúa không phải với tâm tình sợ hãi, e dè, cũng không phải là để tìm lợi ích cho riêng cá nhân mình, nhưng là hiện diện trước Thiên Chúa với tâm tình của một người con, sẵn sàng trình bày với người Cha tất cả những gì liên quan đến mình. Và hơn thế nữa, con người hiện diện trước Thiên Chúa để tìm hiểu chương trình của Người, sẵn sàng tuân phục và cộng tác để thánh ý của Thiên Chúa được thể hiện. Sự hiện diện như thế vượt lên trên mọi suy tính cá nhân, ích kỷ, để thở thành một sự hiện diện trong quan điểm của lịch sử cứu độ, trong tương quan mật thiết với Thiên Chúa đang muốn cứu độ tất cả mọi người.
Ngày nay, sau hai mươi thế kỷ, vẫn có những người quan niệm Thiên Chúa theo kiểu Cựu Ước, vẫn có những người tìm đến Thiên Chúa mà chỉ mong tìm lợi cho mình. Lời kinh Lạy Cha vẫn được đọc lên nhưng không thấm sâu, không làm thay đổi cái nhìn của con người về Thiên Chúa. Người ta không cảm thấy vinh hạnh, không cảm thấy sung sướng khi mình được gọi Thiên Chúa là Cha, khi mình là con Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha - loài người là con : đó không phải là kiêu ngạo, nhưng là ý nghĩa đích thực và sâu xa nhất của Ki-tô giáo.
Trong kiên trì và tín thác
Tiếp đó, Ðức Giêsu nói lên điều cốt yếu của việc cầu nguyện. Người nhấn mạnh những đặc tính hết sức quan trọng là kiên trì và tín thác.
Thiên Chúa biết rõ mọi nhu cầu của con người. Không cần họ phải lên tiếng, Thiên Chúa cũng đã thấu suốt mọi điều họ xin. Nhưng tại sao Thiên Chúa lại để cho người ta phải cầu nguyện, phải năn nỉ ?
Thật ra, dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay chỉ là một hình ảnh. Việc cầu nguyện liên lỉ nối kết con người với Thiên Chúa cách sâu xa hơn, khiến họ ý thức rõ hơn về sự thiếu thốn, sự bất lực của mình. Khi đó họ sẵn sàng dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa và sau khi được Thiên Chúa nhận lời, họ nhận biết Người cách rõ ràng hơn. Bởi đó, việc cầu nguyện liên lỉ, việc chờ đợi không phải là điều đau khỗ, nhưng lại là một hổng ân lớn lao, một sự vươn tới Thiên Chúa cách quyết liệt và cũng là một tâm tình đích thực.
Ngoài ra, Thiên Chúa là Ðấng thông suốt, Người cũng biết con người cần gì. Lòng thương xót của Người thật vô biên, nhưng Người lại muốn con người phải hoàn toàn tín thác, trông cậy nơi Người. Tại sao vậy ?
Thiên Chúa không chỉ đáp ứng những nhu cầu vật chất của con người - trong thực tế, lời cầu nguyện của con người thường chỉ có những điều này. Nếu con người hiện diện trước Thiên Chúa một cách đích thực, nếu mối tương giao của họ với Thiên Chúa không phải để tìm lợi ích cá nhân, thì hẳn việc cầu nguyện chân thành sẽ phải là để cho Thiên Chúa hoạt động, là mở lòng đón nhận Thiên Chúa, hơn là buộc Thiên Chúa phải chiều theo những suy nghĩ, những tính toán tầm thường của mình. Nếu Người có làm thinh như không nghe thấy, chính là để con người đạt tới một điều rất cần thiết, một hổng ân lớn lao mà Ðức Giêsu hứa ban, đó là Chúa Thánh Thần. Hổng ân này vượt lên trên cả nhu cầu về bánh ăn cũng như mọi nhu cầu tinh thần khác.
Mở rộng tâm hổn và sẵn sàng
Hãy xin thì sẽ được - không phải lúc nào cũng như thế.
Việc cầu nguyện khởi đi từ những nhu cầu cụ thể, nhưng sẽ hướng tới điều bất ngờ, hướng tới sự vô biên của Thiên Chúa.
Theo thánh Augustino, "việc cầu xin không nhằm thông báo cho Thiên Chúa, nhưng là huấn luyện con người." Khi cầu xin, chúng ta thú nhận sự bất lực của mình và công nhận Thiên Chúa là Ðấng Toàn Năng, là Ðấng Chí Ái. Một lời cầu xin với Chúa Cha bao hàm hai cuộc hoán cải.
Thứ nhất, với lời cầu xin cho lợi ích của Nước Thiên Chúa, chúng ta thấy rằng không thể xem xét những điều đó theo quan điểm của mình. Vậy, khi cầu xin, tức là để cho thánh ý Thiên Chúa được thể hiện.
Thứ hai, vì ý thức rõ ràng về lời cầu xin của mình với Thiên Chúa, người Ki-tô hữu khám phá ra một khát vọng nền tảng : gặp gỡ Thiên Chúa tình yêu. Lúc ấy, từ những nhu cầu, chúng ta chuyển sang khát vọng, một cuộc chuyển dịch dần dần và đau đớn.
Người cầu xin là người có thái độ của "kẻ đứng trên con tàu, nắm chắc sợi dây cột tàu vào bờ. Họ không kéo tảng đá về phía mình, nhưng mình tiến dần tới tảng đá, họ và con tàu" (Denys l'Arépagite).
Cầu nguyện, đó không phải là áp đặt ý muốn của mình trên Thiên Chúa, nhưng là xin Thiên Chúa cho chúng ta sẵn sàng tuân theo thánh ý, theo kế hoạch cứu độ của Người đối với thế giới.
Cầu nguyện, đó không phải là làm Thiên Chúa thay đổi, nhưng là xin Thiên Chúa thay đổi chúng ta, và biến tâm hổn chúng ta thành tâm hổn của người con.
Nếu chúng ta kiên trì, chúng ta sẽ được, sẽ tìm thấy ; cánh cửa sẽ mở ra. Vì thế, chúng ta không được quyền nản chí. Cầu nguyện, trước hết là kiên trì. (theo phụng vụ Pháp).
Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP
Cầu nguyện, cầu xin
(Lc 11,1-13)
Đọc bài Tin Mừng, chúng ta dễ dàng nhận ra đề tài Chúa Giêsu dạy là vấn đề cầu nguyện, đây cũng là điều chúng ta tìm hiểu. Trước hết là một hình ảnh, muốn đi từ bên đây sang bên kia sông, chúng ta phải qua một chiếc cầu, cầu là phương tiện nối hai bờ sông lại, sông càng lớn, cầu càng phải chắc và dài. Nếu bắc một chiếc cầu dài và chắc qua một con sông lớn, chắc chắn sẽ phải tốn phí rất nhiều, thí dụ như cầu Sài Gòn hay cầu Mỹ Thuận, vì hai bờ quá xa nhau. Cũng vậy, giữa con người với Thiên Chúa cũng có một khoảng xa phân cách, khoảng phân cách đó rộng hơn hai bờ bể xa hút ngàn trùng. Để đến với Chúa, con người cũng phải đi trên một chiếc cầu, chiếc cầu ấy mỗi người có thể tự bắc lấy, không tốn kém gì, không phải là cầu gỗ, cầu sắt hay cầu bê tông, nhưng là cầu nguyện, chiếc cầu làm bằng kinh nguyện. Đây là một việc không xa lạ gì đối với chúng ta, nhưng vì quá quen thuộc mà đôi khi chúng ta cần xem xét lại, kẻo nó trở thành việc máy móc, hoặc khi làm khi bỏ.
Chúng ta đều biết cầu nguyện là gặp gỡ thân mật với Chúa. Gặp gỡ ai là đầu tiên phải thấy người đó, gặp Chúa là nhìn thấy Chúa, không phải bằng mắt xác thịt nhưng bằng mắt linh hồn, mắt đức tin. Nhìn thấy Chúa ở đâu ? Ở khắp nơi, nhưng cách riêng ở ba nơi sau : trên trời, phép Mình Thánh và trong chúng ta. Nhìn lên trời để cầu nguyện, đó là cử chỉ rất quen thuộc của Chúa Giêsu, nhìn lên trời, đó là thái độ hướng lòng lên Chúa. Nhìn vào phép Thánh Thể để cầu nguyện, đó là cử chỉ của chúng ta khi vào nhà thờ, vì dưới hình bánh trong nhà tạm có thực chính Chúa Giêsu. Thu lòng trí trở vào chính mình, chúng ta cũng sẽ tìm thấy Chúa, vì Chúa thích ngự đó hơn ở trong bình vàng để trong nhà tạm. Tóm lại, Chúa ở trên trời, Chúa ở nhà tạm, Chúa ở lòng chúng ta, đâu đâu Chúa cũng nhìn chúng ta, cũng đợi chúng ta, nhưng nếu chúng ta không nhìn lại, thì không bao giờ có sự gặp gỡ giữa đôi bên.
Nhưng gặp gỡ thân mật để làm gì ? Để nói chuyện với Chúa, nói chuyện thì phải dùng lời : lời nói trên môi hay lời nói âm thầm trong lòng trí. Đối với Chúa, chúng ta có thể dùng cả hai cách, vì Chúa thấu suốt tận đáy tâm hồn. Nhưng chúng ta sẽ nói gì với Chúa ? Chúng ta có gì, chúng ta muốn gì, chúng ta là ai, tâm hồn chúng ta thế nào, thì chúng ta cứ nói với Chúa như vậy. Nói về dĩ vãng, hiện tại, tương lai, nói về mình, về người khác, về Chúa… bộc lộ cả những âu lo, những niềm vui, những điều sầu muộn… giãi bày lòng mình với Chúa. Tất cả hãy tâm sự với Chúa, tâm sự tất cả với tấm lòng trên môi miệng, nói như con nói với cha, như kẻ thiếu thốn nói với người giàu có. Tâm sự như thế là một việc tin yêu : tin ở sự có mặt của Chúa đang nhìn chúng ta, nghe chúng ta và sẵn lòng đón nhận chúng ta. Tin nhận sự yếu hèn tội lỗi của mình, tin ở quyền năng và tình thương bao la của Chúa, tin ở sự khôn ngoan vô cùng của Chúa luôn biết sự gì tốt cho chúng ta. Cầu nguyện là như thế.
Chúng ta có thể cầu nguyện không ? Nói không thể cầu nguyện được, là vì sao ? Phải chăng vì không có thời giờ ? Mỗi ngày có 24 giờ, tức 1440 phút, trong đó chúng ta có giờ ngủ, giờ ăn, giờ làm việc, giờ giải trí, có giờ để nói với người trong nhà, trong nơi làm việc, ngoài đường, nhỏ nhặt như việc xỉa răng cũng có thời giờ : sáng hai phút, trưa hai phút, tối hai phút, là sáu phút. Chỉ có việc cầu nguyện thì không có thời giờ. Như thế Chúa là một kẻ ăn xin sao ? như thể cầu nguyện là một việc bố thí cho Chúa, dư giờ và tiện thì làm, không có giờ thì làm ngơ, thái độ đó có xứng đáng cho một người chịu ơn Chúa, gọi Chúa là cha, là Chúa, do Chúa sinh ra, và một ngày kia trở về với Chúa không ? Không cần trả lời, ai cũng quá biết.
Có người lại chữa mình rằng : không thể cầu nguyện, vì không thể đi nhà thờ được, hay vì không thuộc kinh. Những lý do đó không đứng vững, nếu người ta hiểu cầu nguyện là gì như đã nói ở trên. Chúa ở trong nhà tạm, nhưng cũng ở trên trời và ở trong lòng ta, ở bên ta. Như thế, cầu nguyện ở đâu cũng được, ở đâu cũng có thể cầu nguện được. Đàng khác, cầu nguyện không lệ thuộc vào kinh, kinh in trong sách, kinh đọc nơi chung rất ích lợi để gợi ý gợi tình, giúp trí lòng chúng ta dễ cầu nguyện. Nên nhớ chỉ giúp cầu nguyện mà thôi, chứ không làm nên sự cầu nguyện. Sự làm nên việc cầu nguyện phát xuất tự lòng chúng ta. Gặp và nói chuyện với Chúa, đó là cầu nguyện : nói như con nói với cha, như bạn thân nói với kẻ mình thương yêu tin tưởng. Dễ như thế thì ai cũng có thể cầu nguyện được.
Nói rõ hơn, về cầu nguyện, chúng ta hãy nhớ hai điều: Thứ nhất, chúng ta đừng bao giờ coi cầu nguyện một số lúc nào đó là đủ, đừng nghĩ chỉ khi nào đến nhà thờ mới là cầu nguyện. Chúng ta đang ở nhà và đang làm việc vất vả ư ? Hãy hướng tâm hồn lên với Chúa, hãy ngước mắt nhìn Ngài, như thế cũng đã là cầu nguyện rồi. Chúng ta đang đi đường ư ? Hãy cùng đi với Chúa. Chúng ta đang vui ư ? Hãy vui với Chúa. Chúng ta đang buồn khổ hay đang gặp khó khăn ư ? Hãy trình bày với Chúa… Nói chung, trong mọi môi trường, mọi hoàn cảnh, mọi việc làm… chúng ta đều có thể cầu nguyện.
Một điều quan trọng nữa, là những điều chúng ta cầu xin Chúa, dù được hay không được, đó là quyền của Chúa, đó là ý Chúa. Chúng ta cho rằng những điều chúng ta cầu xin là tốt đẹp, là cần thiết, chúng ta muốn Chúa nhận lời hay ban cho chúng ta. Nhưng chúng ta có khôn ngoan và hiểu biết bằng Chúa không ? Chúng ta phải tin rằng Chúa nhìn xa trông rộng, thông minh vô cùng, Ngài biết những gì tốt và cần cho chúng ta, do đó, nếu vì thương, Chúa đáp ứng lời chúng ta cầu xin , thì trái lại, cũng vì thương mà nhiều khi Ngài từ chối. Cả hai trường hợp, chúng ta đều phải xin vâng và cảm tạ Ngài.
Tóm lại, cầu nguyện là việc rất cần, nhưng cũng là việc rất dễ, ai cũng có thể làm được và cần làm thường xuyên, cho cả đời chúng ta thành một lời cầu nguyện liên lỉ, một cuộc sống thân mật với Chúa mỗi ngày, nhờ đó, như chiếc cầu linh thiêng, chúng ta đến với Chúa, gặp gỡ Chúa, tâm tình, tâm sự với Chúa.
Giuse Ngô Văn Công, OP
Anh Em Cứ Xin Thì Sẽ Được
(Lc 11,11-13)
LỜI DẪN
Kính thưa cộng đoàn, Cầu nguyện là hành vi tôn giáo sơ đẳng nhất của con người. Cầu nguyện, theo niềm tin Kitô giáo, là một cuộc trò chuyện thân tình, nghĩa thiết trong tương quan Cha – Con giữa con người thụ tạo và Thiên Chúa Tạo Thành.
Con người hướng đến Thiên Chúa trong lời tạ ơn, cầu xin, sám hối với thái độ khiêm hạ, đặt trọn niềm tin tưởng và phó thác trong sự qua phòng của Thiên Chúa. Chính ý nghĩa cao qúy này làm cho việc cầu nguyện trở nên một hành vi tôn giáo thiết yếu trong đời sống tinh thần của con người. Vì thế, Đức Giêsu vẫn luôn nhắc nhở các môn đệ: “ Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”.
SUY NIỆM
Cầu nguyện chính là hơi thở trong cuộc đời hoạt động của Đức Giêsu. Người là con người của công chúng : Hằng ngày, Người rong ruổi trên các nẻo đường của đất nước Palestine để rao giảng Nước Thiên Chúa, chữa lành bệnh tật và kêu gọi mọi ngươi sám hối. Nhưng Đức Giêsu cũng là con người của sự tĩnh lặng : Sau một ngày hoạt động, Đức Giêsu luôn tìm đến những nơi thanh vắng để cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha. Cầu nguyện chính là nguồn sống trong cuộc đời hoạt động của Đức Giêsu. Và người muốn chúng ta hãy liên lỷ không ngừng trong lời cầu xin bởi Thiên Chúa là người Cha rất nhân từ luôn thấu hiểu và ban ơn cho những người thành tâm kêu xin “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ mở cho”.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con vẫn luôn ý thức về tầm quan trọng của cầu nguện trong cuộc sống của chúng con. Nhưng chúng con cũng như các môn đệ xưa, không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Chúng con thường chạy đến cầu xin khi chúng con gặp những điều trái ý, nghịch cảnh trong cuộc sống. Nhưng chúng con thường lãng quên tạ ơn khi chúng con được đón nhận ân ban từ chính Ngài.
Lạy Chúa Giêsu, khi dạy chúng con xin lương thực cho hôm nay, Chúa cho chúng con thấy tất cả những người đau khổ vì đói vì khát trong cơ thể và trong tâm hồn. Khi dạy chúng con xin lương thực hằng ngày, Chúa muốn mỗi người chúng con hãy phó thác cuộc đời trong tay Thiên Chúa. Và trong hành trình về quê trời không quên Thiên Chúa là Cha nhân từ vì kêu ngạo hay vì dư đầy của cải vật chất.
Lạy Chúa Giêsu, khi dạy chúng con tha thứ “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, Chúa muốn mỗi người chúng con cộng tác vào sứ vụ giao hòa của Chúa. Chúa dạy chúng con rằng lời xin tha thứ của chúng con phải được thể hiện ngay trong việc chúng con cam kết tha thứ cho nhau. Chúa đặt trên môi miệng chúng con lời xin ơn tha thứ ở bất cứ nơi nào chúng con phạm tội, nơi công cộng, trong gia đình, nơi sở làm, trong lối xóm… để mỗi ngày chúng con ý thức được rằng : để tha thứ và được tha thứ, chúng con cần đến lòng thương cảm và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, khi dạy chúng con hãy luôn tỉnh thức để khỏi sa chước cám dỗ “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, hôm nay và trong giờ lâm tử”, Chúa muốn chúng con luôn ý thức về sự yếu đuối và bất toàn của chính mình. Lạy Chúa, chúng con luôn bị cám dỗ cho rằng chúng con có thể làm tôi hai chủ, chúng con vừa muốn tìm kiếm những giá trị trần thế nhưng chúng con vẫn muốn sống theo thánh ý của Ngài. Xin gìn giữ chúng con luôn tình thức và vững lòng trông cậy vào Ngài trong cơn thử thách. Xin giúp chúng con can đảm xả thân vì phần rỗi anh chị em chúng con. Chỉ khi đó chúng con mới có thể hy vọng được thông phần vào bàn tiệc nước Chúa trên quê trời. Amen.
Fr. Sicilianô, OP.
Lời Nguyện Nào Cho Ta ?
(Lc 11,1-13)
Thưa quí vị,
Bài Phúc Âm hôm nay gồm nhiều mảng ghép lại với nhau dưới một đề tài duy nhất: cầu nguyện. Thánh Luca nhấn mạnh về vấn đề quan trọng này trong đời sống Kitô hữu, nhất là trong cộng đòan của ông đang chịu bắt bớ giam cầm vì đức tin vào Chúa Kitô. Gương ông nêu ra là Đức Kitô liên lỉ cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha đang khi Ngài và các môn đệ trên đường lên Giêrusalem. Đây cũng là bổn phận của những ai thành tâm đi theo Ngài. Các tông đồ chứng kiến gương sáng cảm động ấy, nên đến xin Ngài dạy cho mình cầu nguyện. Phúc Âm kể: “Ngài cầu nguyện xong, thì có một môn đệ nói với Ngài: Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện”. Như vậy, họ đã cảm nhận được tính hệ trọng của việc cầu nguyện. Nó quan trọng không những trong cuộc đời của Chúa Giêsu để Ngài sống thân tình với Thiên Chúa và chu tòan thánh ý cách tốt đẹp. Và nó quan trọng cho các môn đệ để kiên trì trong ơn gọi theo Thầy. Có lẽ đường lối Ngài sống thân mật với Đức Chúa Trời bằng cầu nguyện sốt sắng, nên đã chọc giận bè phái Pharisêu và quyền lực đền thờ, vì họ luôn tự nhận mình là người siêng năng cầu nguyện, sống đẹp lòng Thiên Chúa: ăn chay ba ngày một tuần, nộp thuế thập phân đinh hương, bạc hà, đứng cầu nguyện giữa đường phố, đeo thẻ kinh, nối dài tua áo. Họ mới là những kẻ cầu nguyện đích thực. Ong Giêsu chẳng qua là tạy bợm nhậu, lê la với phường tội lỗi.
Chúa không dạy các tông đồ danh sách các kinh phải đọc hoặc những điều kiện nghiêm ngặt phải giữ khi cầu xin. Ngài dạy họ kinh “Lạy Cha” ngắn gọn và đầy đủ những điều phải xin cùng Cha trên trời. Đồng thời tâm tình đối xử với Người Cha ấy, cũng như với tha nhân. Ngài muốn mạc khải cho các ông mối tương quan Ngài có và họ phải có đối với Đức Chúa Trời. “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói như thế này: Lạy Cha, xin làm cho danh Cha vinh hiển, Triều đại Cha mau đến, xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy…”
Trước hết, Ngài dạy họ: Thiên Chúa là Cha “abba”, tiếng trẻ thưa với cha ruột của nó. Vậy đối với các môn đệ (và đối với chúng ta), Thiên Chúa không ở đâu xa vời, quyền thế, ích kỷ, độc đóan; hoặc trên núi cao, sấm sét khắp bầu trời, khói lửa mù mịt dưới chân. Nhưng là một người Cha gần gũi, dịu dàng, nhân ái, đầy tình thương và lòng tha thứ. Tới đây, đáng lẽ Đức Giêsu nên dừng lại, không tiến xa hơn nữa, đừng mạc khải thêm những ám hiệu bí mật về Thiên Chúa, kẻo chúng ta sử dụng như câu thần chú mà nài nỉ đặc quyền, đặc lợi. Kinh nghiệm cho thấy, chỉ có bấy nhiêu thôi, thiên hạ đã lạm dụng tràn lan, giải nghĩa đủ mọi chiều để có lợi ích nhất cho mình. Nhưng không, Đức Kitô tiếp tục bày tỏ lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Ngài mời gọi chúng ta coi nhau như anh em, con cùng một cha, cho nên trong lời dạy của Ngài, Ngài tòan dùng số nhiều: Lạy Cha chúng con ở trên trời. Ngài khuyên chúng ta tin cậy thắm thiết vào Thiên Chúa Cha, Đấng hằng coi sóc chúng ta như con cái nhỏ bé, chăm lo từng chi tiết cho cuộc sống nhân lọai: Xin Cha ban cho chúng con hôm nay bánh ăn nuôi sống. Ngần ấy cũng đủ cho các môn đệ học hỏi và hành động. Ngài đã mở cho chúng ta con đường để sống hạnh phúc và bớt phần bồn chồn, lo lắng: lấy chi mà ăn, mà mặc? Vì người Cha nhân hậu nào mà lại không chăm lo cho con cái mình? Nếu như còn lo âu, ấy là tại chúng ta thiếu lòng tin tưởng và cậy trông. Liệu người Cha trên trời đang tâm nuốt lời hứa?
Năm 1976, miền San Franciscô bị hạn hán nặng, mùa màng mất trắng, người ta phải giết bớt hàng triệu súc vật nuôi vì không đủ cỏ và nước. Giám mục sở tại truyền lệnh cho các tín hữu, linh mục, tu sĩ làm tuần chín ngày cầu xin cho có mưa, nhất là vào các Chúa nhật, tín hữu đi tham dự thánh lễ đông. Mấy ông nhà báo cho là chuyện ngớ ngẩn, thân hành đến văn phòng tòa Giám mục hỏi xem chủ chăn giáo phận nghiêm túc hay bày trò đùa? Phát ngôn viên văn phòng trả lời tích cực, tức nghiêm túc, và thêm rằng: chắc chắn lời cầu xin sẽ được đáp ứng. Họ phá lên cười. Ngày thứ Ba tuần sau, đài khí tượng dự báo thời tiết của liên bang loan tin: sắp có mưa nhỏ trong vài ngày tới. Chiều thứ Tư mưa đổ xuống như thác, mấy hôm sau tiếp tục mưa thành lụt lội. Mấy ông nhà báo trở lại tòa giám mục xin thêm tin tức về khí hậu. Một ông nói: “Đức cha nhất định phải có những người bạn quyền năng ở trên thiên giới.”
Đúng đấy, vì Đức Kitô đã tuyên bố: “hãy xin thì sẽ được, cứ gõ thì sẽ mở cho”. Ông Abraham hiểu rõ điều này, nên trong bài đọc 1, cụ tổ gan lì với lời nài nĩ. Cụ thất bại không phải vì ba người khách không có lòng tốt, nhưng vì Sôđôma và Gômôra không tìm đâu ra người xứng đáng để hưởng ơn lành tha thứ. Phải chăng đây cũng là trường hợp phổ quát của nhân lọai, của cộng đòan, của cá nhân mỗi chúng ta? Tuy nhiên, cũng còn có chút hy vọng, vì Đức Kitô đứng ra thay thế cho ông Abraham cầu khẩn Đức Chúa Cha cho tòan thể lòai người. Ngài đã hứa: hãy xin thì sẽ được, hãy gõ thì sẽ mở cho như Phúc Âm hôm nay chỉ rõ.
Vấn đề khó khăn là nhiều lần chúng ta thành tâm cầu nguyện mà hình như chẳng được nhận lời? Thánh Thomas tiến sĩ giải trình chuyện này trong Tổng luận Thần học của ông (II, II, 57-122). Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ làm minh họa: Một bé gái cầu xin cho được một chiếc xe đạp. Em cầu nguyện hòai nhưng xe đạp vẫn chỉ là giấc mộng. Bạn bè chế riễu nói rằng, Chúa chẳng nhận lời em. Bé ngây thơ khẳng định: có đấy chứ và Người bảo “không được”.
Câu chuyện nhắc chúng ta trường hợp của hai tông đồ: Giacôbê và Gioan con ông Giabêđê đến xin Chúa Giêsu cho đựơc ngồi bên cạnh Ngài, tức chổ tốt nhất. Chúa trả lời: “ngồi bên hữu hay bên tả Thầy không thuộc quyền Thầy, nhưng Cha Thầy sửa sọan cho ai thì người ấy được.” Nghĩa là điều hai ông xin chỉ là ngớ ngẩn, không phải cầu nguyện. Hai ông dự tính sai bảo Thiên Chúa thực hiện theo ý mình. Chỉ khi nào chúng ta thành tâm thuận làm theo thánh ý Thiên Chúa, lúc ấy Người mới làm theo ý chúng ta. Cho nên trong kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tha thứ cho anh em để đựơc Thiên Chúa tha tội cho. Tha thứ cho kẻ khác là thánh ý. Vậy thì lời hứa: “hãy xin thì sẽ được, hãy gõ thì sẽ mở cho” phải được hiểu theo giáo huấn tổng quát của Chúa Giêsu, không riêng lẽ, kẻo rơi vào lầm lẫn. Thánh Giacôbê tông đồ cũng hiểu như vậy: “Anh em xin mà không được, vì anh em xin cái bất xứng, để lãng phí trong việc làm theo dục vọng” (Gc 4,3).
Xin noi gương Chúa Giêsu trong giờ hấp hối tại vườn Giếtsêmani, Ngài đặt kinh Lạy Cha vào thực hành: Lạy Cha, Cha làm được mọi sự, xin cất chén đắng này xa con. Nhưng đừng làm theo ý con mà là theo ý Cha muốn. Đó là lời cầu xin hòan hảo nhất, tuyệt đối tin cậy vào Thiên Chúa, tìm kiếm ý Thiên Chúa hướng dẫn. Và Người đã sai thiên thần đến chỉ bảo cho Ngài, ban can đảm để Ngài đi vào khổ nạn, chu tòan sứ mệnh cứu chuộc.
Dĩ nhiên, chúng ta chẳng được biết Chúa Cha ban gì cho chúng ta, nhưng chắc chắn Người ban điều tốt hơn những gì chúng ta cầu xin. Đây không phải là lý luận vô căn cứ. Chính Đức Kitô nói lên trong bài Phúc Âm hôm nay: “Nếu anh em là những kẻ xấu, mà còn biết cho cái mình của tốt lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ cầu xin Người hay sao ?” Thánh Thần nào ? Thưa, Thánh Thần của tình yêu, sự sống, thánh thiện, tốt lành. Đó không phải là những gia tài quí báu nhất trong vũ trụ hay sao ? Cho nên, đừng nản chí hoặt thất vọng. Khi cầu xin là chúng ta được nhận lời rồi. Phúc Âm thánh Máccô quả quyết như vậy. Chỉ có điều chúng ta cầu xin cho am hợp thánh ý Chúa. Thế giới này sẽ nghèo nàn biết bao nếu chúng ta sao lãng việc cầu nguyện. Chúng ta cố gắng thực thi ý Chúa, làm điều tốt, Thiên Chúa sẽ tuôn đổ hồng ân xuống cho nhân lọai. Thiết tưởng đây là công việc tông đồ vĩ đại, hữu ích nhiều lần hơn là các họat động thể xác, ồn ào và kém hiệu quả !
Cuộc đời Chúa Giêsu tuy sống khăng khít với Chúa Cha, luôn âu yếm gọi Người là : Abba, Cha ơi !, nhưng không khỏi những đau khổ, thánh giá. Vậy thì chúng ta tránh thóat thế nào đựơc ? Ai đang tâm né tránh là phản bội ơn gọi tín hữu, chi thể của Đức Kitô. Vì tôi tớ chẳng khá hơn chủ nhà. Đó là điều mà Đức Kitô dạy bảo các môn đệ khi mạc khải Thiên Chúa Cha cho họ. Và cũng là nội dung duy nhất chúng ta làm cho danh Cha hiển thánh. Cũng như Đức Kitô tôn vinh Cha Ngài khi sẵn lòng bước vào cuộc khổ nạn. Sau khi thiên thần thêm sức cho Ngài và Ngài hiểu rõ thánh ý Thiên Chúa, thì không chi ngăn cản được Ngài gánh chịu đau đớn và nhục hình. Cứ để cho binh lính bắt bớ, Ngài đưa tay cho họ còng. Cứ để cho chúng đánh đập, Ngài đưa má cho chúng giật râu. Hãy để mặc chúng kết án, Ngài chỉ trả lời bằng yên lặng, khiêm nhường, nhẫn nhục. Ôi ! Gương sáng tuyệt vời về lòng vâng phục ! Còn chúng ta thì sao ? Có xấu hổ lắm không khi hàng ngày đọc như cái máy ghi âm: ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời, rồi lại tìm kiếm vinh hoa phú quí. Đúng hơn, chúng ta nên sửa lại: xin làm theo ý con, chứ đừng theo ý Cha!
Sau khi dạy dỗ các môn đệ về mối tương giao với Chúa Cha, Đức Giêsu nêu ra những nhu cầu chúng ta phải xin hàng ngày cùng Thiên Chúa, Đấng luôn là tạo hóa yêu thương : Bánh ăn hàng ngày, lỗi lầm lỡ phạm, chước cám dỗ bủa vây. Bởi lẽ, chúng ta còn thân xác và đang trong tiến trình làm môn đệ Ngài. Cho nên, lương thực, thực phẩm cho thân xác là cần thiết. Và bởi lẽ, bản chất sa ngã, luôn thiếu sót trong bổn phận, nhiệm vụ, cho nên ơn tha thứ là không thể miễn trừ. Nhưng Chúa đặt điều kiện, chính mình phải tha thứ cho những xúc phạm do người anh em gây nên ! Chuyện này hơi khó vì thực ra quyền năng tha thứ thuộc về tình yêu của Đức Chúa Trời. Và lòai người cần phải tiếp tục xin ơn ấy, chúng ta không luôn sẵn sàng thứ tha cho anh em! Tha thứ là điều Thiên Chúa muốn, nhưng chúng ta phải cầu xin khả năng để làm được việc ấy.
Như vậy, Đức Kitô xác định lại sự hiệp nhất với Ngài và hiệp nhất với nhau: “xin cho chúng con… xin tha thứ chúng con… đừng để chúng con sa chứng cám dỗ.” Tòan là những lời cầu xin của ngôi thứ nhất số nhiều ! Ai dám bảo mình có thể xé lẻ và lọai trừ kẻ khác ? Chúng ta phải cầu nguyện như một cộng đồng, hơn thế nữa, cộng đồng thánh thể, cộng đồng được nuôi dưỡng bằng Mình Máu Thánh Chúa và bánh ăn hàng ngày, tha thứ cho nhau, đừng đưa nhau vào cám dỗ, nhưng làm gương sáng cho nhau bằng việc lành, phúc đức, ăn chay, hãm mình.
Dụ ngôn “người bạn xin bánh” tăng cường lòng tin cậy của chúng ta. Mặc dầu bị từ chối nhiều lần, nhưng người bạn không nản chí, cuối cùng, ông ta được chủ nhà thỏa mãn nguyện vọng. Chúa Giêsu kết luận: Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì lại cho nó con rắn ? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bọ cạp ? Vậy lời cầu xin gan lì truớc tôn nhan Thiên Chúa nhất định có hiệu quả. Xin đừng xấu hổ khi không được nhận lời. Vì thực ra, theo thánh Phao Lô, không phải chúng ta cầu xin mà Thánh Thần, Đấng đang ngự trong linh hồn mỗi tín hữu, cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả. Amen.
Đỗ Lực, OP
HỢP TÁC HAY KHÔNG HỢP TÁC ?
(Lc 11:1-13)
Thế kỷ 20 ít có vĩ nhân nào có thể sánh với Mẹ Têrêsa Calcutta. Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Javier Pérez de Cuéllar từng vinh danh Mẹ : “Bà là Liên Hiệp Quốc. Bà là hòa bình thế giới.” Năm 1985, trong Đại Sảnh Đường LHQ, trước khoảng một ngàn cử tọa nổi tiếng, ông TTK trịnh trọng tuyên bố về Mẹ : "Tôi xin giới thiệu với Quý Vị người phụ nữ quyền lực nhất thế giới.” (1)
Ai cũng biết Mẹ Têrêsa là một phụ nữ nhỏ nhắn và ốm yếu. Nhưng sự nghiệp của Bà vượt ngoài sức tưởng tượng. Năm 1979, Mẹ Têrêsa đã lãnh giải Hòa Bình Nobel, “vì đã hoạt động để khắc phục sự nghèo khổ và khốn cùng, nguyên nhân đe dọa nền hòa bình.” Lúc qua đời, Mẹ Têrêsa đã trối lại một gia tài kếch sù cho Giáo Hội để phục vụ nhân loại : hơn 4,000 nữ tu Thừa Sai Bác Ái, nhóm liên hiệp huynh đệ với 300 thành viên, và trên 100,000 thiện nguyện giáo dân, hoạt động trên 610 tụ điểm truyền giáo trong 123 quốc gia. (2)
Ðứng trước những những công việc và thành quả lớn lao đó, ÐGH Gioan Phaolô II tự hỏi và trả lời : “Bởi đâu Mẹ Têrêsa tìm thấy sức mạnh và bền chí hiến mình hoàn toàn phục vụ tha nhân ? Trong thầm lặng, Mẹ đã tìm thấy sức mạnh trong lời cầu nguyện và chiêm niệm Ðức Giêsu Kitô, Dung nhan Chí Thánh, Trái Tim Cực Thánh của Chúa.” (3) ÐHY Hồng Y O'Connor, Tổng Giám Mục Nữu Ước, cũng công nhận : “Ðối với Mẹ, tất cả quyền lực đều ở nơi Chúa Giêsu, qua Chúa Giêsu, cho Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu. Sức mạnh của Mẹ chính là sức mạnh của cầu nguyện, của hoàn toàn tuân phục thánh ý Thiên Chúa, của tình yêu dành cho tất cả đời sống con người." (4)
Gương Mẹ Têrêsa Calcutta có giúp chúng ta tìm một hướng đi mới cho công cuộc phục vụ dân tộc không ? Nếu xác tín và sống như Mẹ, chúng ta có đủ ánh sáng cần thiết để chọn lựa con đường hợp tác hay không với chế độ hiện tại không ? Làm sao có đủ sức mạnh thi hành sứ mệnh giữa bao nhiêu thách đố hôm nay ?
CẦU NGUYỆN LÀ LẼ SỐNG
Trong đêm tối trần gian, Chúa Giêsu chiếu sáng lên hình ảnh Thiên Chúa như vị Từ Phụ ân cần lắng nghe và đáp cứu con người khi họ cầu nguyện. Cầu nguyện là lẽ sống. Kết quả không phải là những ân huệ vật chất, nhưng là chính Thánh Linh (x. Lc 11:13). Có Thánh Linh là có tất cả. Chính nhờ Người, Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và cứu độ nhân loại. Người là tất cả sức mạnh của Thiên Chúa. Thánh Linh là món quà tuyệt vời Chúa Cha ban cho những ai tin tưởng và kiên trì cầu nguyện. Nhận được món quà vô cùng quý giá này, con người sẽ có thể làm mọi sự.
Không cầu nguyện, con người không thể làm gì trên trần gian. Quả thế, “cầu nguyện là một nhu cầu sống còn. Bằng chứng, nếu không để Thánh Linh hướng dẫn, chúng ta sẽ rơi vào ách nô lệ tội lỗi. Làm sao Thánh Linh có thể trở thành ‘sự sống’ chúng ta, nếu lòng ta xa Người ?” (5) Không có Thánh Linh, tất cả ngôn hành đều là những trò múa rối. Không cầu nguyện, chúng ta không thể nào tồn tại, chứ đừng nói làm được việc gì. Nhưng làm sao cầu nguyện, nếu không có đức tin. Do đó, Chúa Giêsu đưa hai dụ ngôn về người bạn quấy rầy ban đêm và về người cha trần gian so sánh với Cha trên trời. Cả hai dụ ngôn đều ngầm khuyến khích chúng ta phải có lòng kiên nhẫn và tin tưởng vào lòng từ phụ của Thiên Chúa. Ðúng như thánh Giacôbê nói : “Ðức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn.” (Gc 1:3)
Trong thực tế, nhiều lúc chúng ta thiếu kiên nhẫn, vì đức tin không đủ mạnh. Nếu đức tin mạnh đủ, chúng ta có thể thưởng thức được tất cả hương vị ngọt ngào và sự sống chan hòa trong lời cầu nguyện. Có thể hiểu phần nào bản chất lời cầu nguyện, vì cầu nguyện có nhiều nét giống chiêm niệm. Mẹ Têrêsa nói : “Theo tôi, chiêm niệm không phải là im lặng trong đêm tối, nhưng là để Chúa Giêsu sống cuộc khổ nạn, tình yêu, và đầy khiêm tốn trong chúng ta, cầu nguyện với chúng ta, hiện hữu với chúng ta, thánh hóa qua chúng ta.” (6)
Như vậy, cầu nguyện và chiêm niệm làm cho con người ngày càng giống và nên một với Chúa Kitô. Không sống với Người, chúng ta không thể thấu hiểu bản chất và những đòi hỏi của tình yêu. Tất cả bản lãnh và sức mạnh phục vụ đều bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ Chúa Kitô trong lời cầu nguyện. Cầu nguyện là bước vào cuộc sống của Chúa, để có thể nhìn thấy và phục vụ anh chị em đang đau khổ trong mọi cơ chế bất công.
CÁCH MẠNG NHUNG
Bất công là nguyên nhân sinh ra mọi tệ trạng xã hội. THÐ Giám Mục Thế Giới từng nhận định : “Mặc dù không phân tích sâu xa hiện trạng thế giới, nhưng chúng tôi có thể nhận thấy những bất công nghiêm trọng đang thiết lập một hệ thống khống chế, đàn áp và lộng hành khắp nơi để bóp nghẹt tự do và làm cho phần lớn nhân loại không thể tăng trưởng và không có một thế giới công bình và huynh đệ hơn.” (7)
Cũng như Mathêu, Luca đặt ở phần mở đầu Kinh Lạy Cha lời cầu xin cho “Triều Ðại Cha mau đến.” (Lc 11:2) Ðây là cốt lõi mọi vấn đề trong Kinh Lạy Cha và là sứ điệp căn bản của Chúa Giêsu và các môn đệ trong Tin Mừng Nhất Lãm. Ðó cũng là chủ đề nòng cốt trong lời giảng các Tông đồ (ví dụ Cv 8:12; 19:8). Nước Thiên Chúa không phải chỉ là chủ đề duy nhất được đề cập đến trong Tin Mừng Mathêu, nhưng còn là chủ đề quan trọng trong Tin Mừng Luca nữa.
Dưới ngòi bút Luca, con cháu Abraham (ví dụ Lc 13:10-17; 19:1-10) và những người thừa hưởng lời hứa của Thiên Chúa là chính những “người nghèo của Thiên Chúa,” nạn nhân của những cơ chế bất công trong đạo cũng như ngoài đời. Mối phúc thứ nhất dành cho người nghèo Nước Thiên Chúa. Họ nghèo thực sự, chứ không phải chỉ có tinh thần nghèo khó. Nhờ gặp gỡ Chúa Kitô trong lời cầu nguyện các Kitô hữu tiên khởi đã chia sẻ tài sản với những người túng bấn (Lc 6:17-49). Như thế, rõ ràng Nước Thiên Chúa đã có ảnh hưởng sâu xa tới nước trần gian. Giáo hội đã phục vụ Nước Thiên Chúa một cách hữu hiệu trong việc biến cải và thay đổi xã hội.
Khi cầu nguyện cho “Triều Ðại Cha mau đến,” môn đệ Chúa Kitô đang thực hiện một cuộc cách mạng biến đổi thế giới. (8) Quả thế, “thế giới hôm nay nổi bật với tội bất công nặng nề. Chúng ta vừa nhận thức trách nhiệm, vừa thấy mình không thể lấy sức mạnh chế ngự tội bất công đó. Tình hình đó thúc đẩy chúng ta phải lắng nghe lời Thiên Chúa với tâm hồn khiêm tốn và mở rộng.” (9) Bởi đấy, Kinh Lạy Cha đòi chúng ta phải lật đổ bất cứ thứ bất công nào trên thế giới.
Hơn nữa, Kinh Lạy Cha cũng thúc đẩy chúng ta thành lập những cộng đoàn phản ánh trung thực những giá trị Tin Mừng. Vì đã thinh lặng trước sự bất công trong đạo và bị những hứa hẹn sai lạc của đế quốc trần gian quyến rũ, chúng ta không thấy nhu cầu liên kết để hỗ trợ nhau và bàn thảo kế hoạch thay đổi những chế độ tội lỗi. Liên đới với những người đang sống trong hoàn cảnh không thể thực hiện ước nguyện giữa những tương quan cá nhân, phe nhóm và cơ chế. Ðó là thách đố đối với những ai đang hưởng lợi từ sự bất công. Ðó cũng là đề nghị hay nhất của Kinh Lạy Cha. Bởi thế, càng cần phải thành lập gấp những cộng đoàn đối kháng, đặt nền trên lời cầu nguyện, lời thề sống chết theo công lý và đầy cảm thông. Cộng đoàn như thế sẽ thay thế trật tự xã hội hiện tại. (10)
Khi quy tụ thành cộng đoàn, chúng ta có Chúa Giêsu ở giữa (x. Mt 18:20) để soi sáng cho chúng ta thấy những lý thuyết cực đoan ảnh hưởng tới đời sống trong bốn cấp độ : cá nhân, liên vị, hạ tầng kiến trúc và môi trường. Chúng ta tự hỏi các đường lối hiệp thông khác nhau trên thế giới có phản ánh sự hiệp thông mà Thiên Chúa đòi phải có trong các tương quan giữa con người và các nguồn tài nguyên trên trái đất không. Vấn đề sẽ nổi cộm và làm nhức nhối lương tâm. Cuối cùng chúng ta sẽ đi đến quyết định tìm đường lối nào tốt nhất để sám hối trong mọi lãnh vực đời sống. (11) Sám hối sẽ thay đổi tận nền tảng mọi cơ chế bất công trong xã hội và Giáo hội.
Như thế, Kinh Lạy Cha cổ động công lý trong một thế giới đầy bất công. Bất công đã bóp nghẹt tự do giữa con người và tạo nên chướng ngại cho việc xây dựng một thế giới liên đới hay đầy tình huynh đệ hơn. Bất công làm cho phần lớn nhân loại không được chia sẻ những tài nguyên trái đất. Nếu Kinh Lạy Cha thực sự phát xuất tận đáy lòng, người tín hữu không thể không thấy mọi người đều bình đẳng trước Thiên Nhan. Trong mỗi lời cầu xin, Kinh Lạy Cha đều đảo lộn sâu xa những động lực trần gian. Bởi thế, chỉ khi nào có cái nhìn của Chúa, chứ không phải của thế gian, Kitô hữu mới có thể thực sự đọc Kinh Lạy Cha một cách có ý nghĩa và hiệu lực. Nếu không, dù có đọc cả triệu lần Kinh Lạy Cha, mọi sự vẫn chẳng có gì biến đổi. Cái khó biến đổi nhất là cái tôi, cá nhân hay tập thể cũng vậy. Có bước đầu tiên đó mới có những bước kế tiếp.
ÐƯỜNG CHÚNG TA ÐI
Có một số người vẫn sống trong mơ. Theo họ, cầu nguyện là gặp gỡ Chúa. Ðó là lối sống đạo. Ðời là đấu tranh, giành dựt, mưu mô. Có lằn ranh rõ rệt. Không thể đem Chúa ra khỏi nhà thờ. Ra khỏi nhà thờ, Kitô hữu cần khoác bộ áo và khuôn mặt khác. Nếu không, họ sẽ thất bại thê thảm. Giữa cầu nguyện và cuộc sống cần phải có một bước nhảy vọt.
Có đúng như thế không ? Nếu đúng, vô tình họ tự đứng vào phe những người không chung đất đứng với Chúa Giêsu. Những người đó vẫn có mặt trong đạo và ngoài đời. Khi tách biệt đạo đời quá kỹ, con người không còn sống thật với chính mình. Bởi đó, họ dễ trở thành mồi ngon cho đủ thứ chủ nghĩa, từ tình dục đến quyền lực, từ tiền tài đến danh vọng v.v.
Chỉ có đức tin mới giúp chúng ta thấy được mạch nối giữa cầu nguyện và cuộc sống. Thực vậy, “cầu nguyện và sống đạo là hai việc không thể tách rời. Cả hai cùng xuất phát từ tình yêu và sự quên mình vì yêu. Cả hai cùng nhắm đến chỗ hòa hợp với ý định yêu thương của Chúa Cha trong tâm tình mến yêu của người con thảo. Cả hai cùng giúp tín hữu hiệp thông với Thánh Linh để được biến đổi ngày càng nên giống Ðức Giêsu Kitô. Cả hai cùng thể hiện tình thương yêu mọi người, bắt nguồn từ tình yêu Ðức Kitô đã yêu thương ta.”(12)
Thiên Chúa muốn cuộc sống Kitô hữu phải thống nhất. Hơn nữa, Thiên Chúa còn muốn Kitô hữu phải nhập thể và nhập thế như Ðức Kitô. Có nhiều người đứng ngoài nhìn vào để lên án những người đang nhập cuộc. Nhập cuộc không chỉ thấy nơi những người trong cuộc. Có khi đang ở trong cuộc mà không nhập cuộc. Giáo hội chỉ là phương tiện phục vụ Nước Trời, chứ không ngược lại. Giáo hội phải hy sinh tất cả để “Triều Ðại Cha mau đến.” Nếu không, Giáo hội sẽ phản bội Thày mình vì đã không chu toàn sứ mệnh trọng đại đối với dân tộc.
Lạy Cha, xin cho chúng con biết hy sinh cho “Triều Ðại Cha mau đến” trên quê hương chúng con. Xin cho chúng con luôn hiệp nhất để chu toàn sứ mệnh lịch sử trong GHVN hôm nay. Amen.
Đỗ lực 29.07.2007
1. http://www.famouspeople.co.uk/m/motherteresa.html
2. ibid.
3. ÐGH Gioan Phaolô II (2003). Diễn Giảng Cho Khách Hành Hương Ðến Roma Nhân Dịp phong Chân Phước cho Mẹ Têrêsa. http://www.famouspeople.co.uk/m/ motherteresa.html
4. (WIL, 31) http://tiengnoigiaodan.net/dacbiet/db_nnqlu.html.
5. Giáo Lý Công Giáo, số 2744.
6. Trong trung tâm Thế giới, Thư viện New World.
7. Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới 1971, “Công Bình Trên Thế Giới.”
8. x. Crosby, M. H., The Prayer That Jesus Taught Us, 2002:23.
9. Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới 1971, “Công Bình Trên Thế Giới.”
10. x. Crosby, M. H., The Prayer That Jesus Taught Us, 2002:23.
11. ibid.
12. Giáo Lý Công Giáo, số 2745.