Đôi nét sơ lược về một giai đoạn trong lịch sử Hội Ḍng Mến Thánh Giá Huế  ( từ 1872 - 1940 )

 

- Năm 1872: (Đức Cha Sohier)

          Theo bản báo cáo của cha Bề Trên Tổng Quản Dangelzer năm 1869, th́ số kitô hữu trong giáo phận là  24.212 người. Nhân sự của Miền Truyền Giáo này gồm có: 1giám mục, 7 thừa sai người Âu. 37 linh mục bản xứ, 2 phó tế, 5 thầy chức nhỏ và 13 thầy đă chịu phép cắt tóc. Do sự giảm sút trợ cấp của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, số chủng sinh trước đây là 70, nay giảm lại c̣n 30, tuy nhiên đó là không kễ 24 chủng sinh đang học tại học viện trung tâm Pulo-Pinang . Các nữ tu người Việt (Mến Thánh Giá) là 360. 

 

- Năm 1873: (Đức Cha Sohier)

           Giáo phận gồm khoảng 25.187 kitô hữu trên tổng số 2 triệu dân... Các kitô hữu làm thành khoảng 112 họ đạo, trừ một vài họ đạo quá nhỏ, c̣n tất cả các họ đạo khác đều có một nhà nguyện ít nhiều xử dụng được. Trong toàn cả giáo phận chỉ có 5 nhà thờ khá vững chắc và khang trang để có thể cất giữ Ḿnh Thánh Chúa. Các người tân ṭng nhiệt tâm thi nhau xây dựng các nhà thờ mới và chấp nhận nhiều hy sinh lớn lao để thực hiện, nhưng họ tiến hành chậm răi v́ nghèo khó.

            Chủng viện của Miền Truyền Giáo có 33 chủng sinh, không kể 28 thầy đại chủng sinh, trong đó có 2 phó tế, 5 phụ phó tế, 4 thầy chức nhỏ  và 13 thầy chịu phép cắt tóc.

          Có  20 trường nam gồm 257 học sinh và hai trường nữ  gồm 43 em. Hai cô nhi viện cho 272 cô nhi. Thêm vào đó có 2 tiệm thuốc và 2 trang trại. Nhân sự của Miền Truyền Giáo gồm 1 giám mục Đại Diện Tông Toà, 7 thừa sai người Âu và 37 linh mục bản xứ, 7 cộng đoàn nữ tu gồm 350 nữ tu người Việt (Mến Thánh Giá). 

 

- Năm 1875: (Đức Cha Sohier)

           Miền Truyền Giáo của tôi gồm gần 3 tỉnh, đó là tỉnh Thừa Thiên  hay tỉnh của Vua, nơi có kinh đô, tỉnh Quảng Trị và hai phần ba tỉnh Quảng B́nh. Một cha thừa sai trông coi một tỉnh hoặc một phần tỉnh và như là linh mục tổng quản (archiprêtre).

1.  Cha Pontvianne là bề trên tỉnh Quảng B́nh; ngài lo việc điều hành 6 linh mục bản xứ, hai tu viện nữ tu (Mến Thánh Giá) và lo giám sát 4.845 giáo dân, trong đó có 741 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc.

2.  Cha Pineau là bề trên hai giáo hạt rộng lớn, lo việc điều hành 8 linh mục bản xứ, một tu viện lớn các nữ tu (Mến Thánh Giá) và giám sát 7.225 giáo dân, trong đó có 500 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc.

3.  Cha Bonin là bề trên hai giáo hạt lớn (Dinh Cát - Thanh Hương và Đất Đỏ), lo việc điều hành 8 linh mục bản xứ, hai tu viện các nữ tu (Mến Thánh Giá) và giám sát 7.424 giáo dân, trong đó có 1.022 người thuộc quyền ngài đặc biệt coi sóc.

4.  Cha Dangelzer dạy thần học, coi sóc một giáo xứ gồm 614 giáo dân, giải tội cho các nữ tu của hai tu viện (Mến Thánh Giá) và các nữ tu (Mến Thánh Giá) ở cô nhi viện Kim  Long, và cùng với tôi, bao lâu các công việc khác của  ngài không có ǵ trở ngại, lo việc điều hành 14 linh mục bản xứ và giám sát 6.041 giáo dân trong tỉnh của Vua.

5.  Cha Renauld có nhiệm vụ điều hành các trang trại của chúng tôi nơi có những cơ sở chính của Nhà Dục Anh (Sainte-Enfance) - (tôi sẽ nói đến một ít sau này).

6.  Cuối cùng tôi đặt cha Mathey đứng đầu linh mục đoàn . Về phần tôi th́ lo điều hành tổng quát cả Miền Truyền Giáo, lo liên lạc bên trong và bên ngoài, lo sổ sách tính toán của sở Quản lư, v́  không có sẵn một vị thừa sai nào để có thể giao phó trọng trách này, điều này càng làm cho tôi thêm rối rắm...

       Trong Miền Truyền Giáo, chúng tôi có hai trang trại cho Nhà Dục Anh , một đă được lập ra cách đây sáu năm, nay rất phát triển, c̣n trang trại kia lớn gấp ba lần đă được khởi công năm nay. Cho Miền Truyền Giáo, chúng tôi c̣n có một trang trại khác nữa cũng đang h́nh thành, mặc dầu đă được khởi sự cách đây ba năm. V́ trang trại này ở chỗ rất tốt và ở đó có thể tạo ra những ǵ cần thiết để sinh sống, nên với sự đồng thuận của tất cả anh em, tôi đă định chuyển trụ sở của chúng tôi đến đó, xây dựng ở đó một nhà thờ đẹp đẽ và một tu viện các nữ tu v.v.... Đó cũng có thể sẽ là một nơi tĩnh dưỡng cho Miền Truyền Giáo của chúng tôi, một nơi tĩnh tâm cho các linh mục và nơi nương tựa cho các tân ṭng dễ bị hư mất, nếu phải trở về giữa những làng lương dân ở quê của họ. Tôi đă đặt cha Renauld đứng đầu để lo các công tŕnh hết sức quan trọng này. 

 

- Năm 1879: (Đức Cha Pontvianne)

             Các Công tŕnh của Nhà Dục Anh cũng thông phần với các khổ sở chung. Việc lo cho các cô nhi trở nên tốn kém hơn. V́ các thừa sai không thể thâu nhận  tất cả những em được người ta mang đến. Các nữ tu (Mến Thánh Giá) có nhiệm vụ  đi t́m những trẻ ốm đau hoặc bị bỏ rơi để giúp rửa tội cho chúng, họ không thể có trợ cấp như ḷng mong ước. Đàng khác, trong thời đói kém, các nẻo đường không bảo đảm an ninh, và rất thường khi trong các chuyến đi làm việc tông đồ, các chị em quảng đại này đă gặp nhiều hiểm nguy. 

 

- Năm 1885: (Đức Cha Caspar)

        ...Trong giáo xứ Dương Lộc, cuộc tàn sát thật kinh khủng . Chắc hẳn v́ không thấy thật rơ hiểm nguy đang bủa vây, hoặc nghĩ rằng tụ họp nhau lại có thể giúp nhau chống cự dể dàng hơn với những kẻ cướp bóc, các kitô hữu thuộc 5 giáo xứ, 4 linh mục bản xứ và khoảng chừng 50 nữ tu tụ họp nhau tại Dương Lộc. Họ đă có thể đẩy lui nhiều đợt tấn công của những loạn quân . Nhưng đám quân này lại gọi thêm tăng viện và dẫn đến cả một con voi trận .Trước sức mạnh này, những người cố thủ chắc hẵn đă mất nhuệ khí, và loạn quân đă phá tan mọi sự chống cự, xâm nhập vào trong các luỹ nhỏ pḥng thủ yếu ớt của các kitô hữu . Lửa cháy, gươm đao, tất cả cùng hợp lại để tàn sát hai ba ngàn kitô hữu đang tụ họp trong nơi này. 

 

- Năm 1890: (Đức Cha Caspar)

           Giáo hạt Quảng B́nh bị trận đói tàn phá, một cơn dịch làm chết gia súc, không thể cày bừa, các cánh đồng bị bỏ hoang, và nạn đói  chẳng bao lâu đă thấy rất rỏ ràng. Trong cơn hoạn nạn , nhiều cha mẹ đă mang đến các cô nhi viện trong giáo hạt các trẻ em họ không thể nuôi nổi. Những trẻ em này được đem đến cho chúng tôi trong t́nh trạng kiệt lực đến nỗi phần lớn đă chết liền sau khi lănh nhận phép Rửa tội. Các nữ tu người Việt (Mến Thánh Giá Tam Toà) lo cô nhi viện Tam Toà thật đáng ca tụng v́ ḷng nhiệt thành tận tuỵ , ngay nhiều chị đă phải đau nặng v́ thiếu thốn và lao nhọc phải chịu đựng.

           Các kết quả trong tỉnh Huế không thua kém trong các giáo hạt khác. Số các người lớn được rửa tội là 887 và số các trẻ em con cái lương dân đă được rửa tội vượt quá 4.000. Số kitô hữu của giáo hạt này là 7.838, chưa kể nhân sự của chủng viện, của các tu viện (Mến Thánh Giá), nhà thương và cô nhi viện. 

 

- Năm 1891: (Đức Cha Caspar)

           Cha Guillot cũng tràn đầy công việc, v́ không kể 5 họ đạo và công tŕnh Nhà Dục Anh phải lo, ngài c̣n phải hướng dẫn một cộng đoàn gồm 35 nữ tu người Việt (Mến Thánh Giá Dương Sơn)

           C̣n cha Allys viết: “1.911 Kitô hữu trong giáo hạt của tôi làm cho tôi bận bịu nhiều, chưa kể một phần thời gian tôi phải dành cho cộng đoàn nữ tu (Mến Thánh Giá Phủ Cam) và công tŕnh Nhà Dục Anh cũng  làm cho tôi lo lắng liên tục”. 

 

- Năm 1893: (Đức Cha Caspar)

           Cha Bonin, phụ trách giáo hạt Quảng B́nh rộng lớn viết cho tôi: “Công tŕnh Nhà Dục Anh tiếp tục phát triển. Số các trẻ em lương dân trong t́nh trạng nguy tử đă được rửa tội cao hơn các năm trước. Các người nam nữ rửa tội cho các trẻ nhiều hơn và đă có một mùa gặt  dồi dào, mặc dầu năm nay không có trận dịch nào. Các nữ tu bản xứ (Mến Thánh Giá Tam Toà) ở cô nhi viện Tam Toà đă có thể lo cho một số lớn các trẻ nội trú có chổ ở, nhất là trong hai giáo xứ Kẻ Bàng và Kẻ Sen. Ở đó giữa các Kitô hữu các trẻ này được giáo dục tốt hơn để thực hành đạo”. 

 

- Năm 1894: (Đức Cha Caspar)

           Cha Barthélémy ( Hạt trưởng giáo hạt Đất Đỏ) viết cho tôi: “Làn sóng trở lại có thể cảm nhận được ở khắp nơi ,từ bờ biển cho đến vùng núi. Cha Izarn đầy ḷng nhiệt thành luôn hăng hái và sáng suốt đă rửa tội 308 lương dân và đă lập được một cứ điểm mới trong trong một làng cho đến nay không có người có đạo. Vùng cao của giáo hạt đă có 955 người trở lại đạo, vùng thấp có 725: thật đáng thán phục! ”

           Công tŕnh Nhà Dục Anh tiến triển tốt nơi chúng tôi, mặc dù số rửa tội thấp hơn  nhiều giáo hạt khác: chính v́ các người lương ít khi trao con cái họ cho chúng tôi, mà chỉ quyết định vào giờ sau hết. Lại nữa, tôi ít có người giúp để rửa tội những trẻ hấp hối- Về phương diện này, tôi cảm thấy vui mừng khi sắp lập lại một tu viện nữ tu bản xứ (Mến Thánh Giá Di Loan) trong giáo hạt của tôi. Công cuộc rửa tội cho các trẻ hấp hối có thể nhờ vào đó. 

 

- Năm 1896: (Đức Cha Caspar)

           Cha Barthélémy ( Hạt trưởng giáo hạt Đất Đỏ - Quảng Trị) viết: “Nếu tôi phải vui mừng về rất nhiều cuộc trở lại đạo, th́ tôi c̣n rất đáng chúc tụng Chúa về công cuộc mục vụ đạt nhiều thành quả của chúng tôi trong việc coi sóc các kitô hữu- Giáo hạt gồm 9.945 tín hữu. Tu viện (Mến Thánh Giá) Di Loan có 71 nữ tu, cộng chung là 10.016  linh hồn- Số xưng tội năm lên tới 6.000 và số xưng tội thường xuyên (không kể của các nữ tu) là hơn 10.000 lượt; chúng tôi đă ban hàng trăm Của Ăn Đàng (viatiques), ban bí tich Xức Dầu  142 lượt và cử hành 154 lễ Hôn Phối. 

 

- Năm 1897 :  (Đức Cha Caspar)

            Cha Barthélémy viết: “Chẳng phải thật vô ơn đối với Chúa sao khi kết thúc bản báo cáo này mà không nói ǵ đến các hoa trái có được do ḷng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu? Trước hết nói về Di  Loan, giáo xứ chính của toàn giáo hạt. Hơn 4 năm kể từ ngày Đức Giám mục đă khấng ban phép chọn Thánh Tâm Chúa làm bổn mạng giáo xứ, và nhất là kể từ ba năm qua, được ơn Chúa soi dẫn, tôi đă tổ chức việc cử hành ngày thứ sáu đầu tháng, đă có một sự thay đổi tỏ tường giữa các tín hữu. Cứ đến ngày thứ sáu đầu tháng, một lượng rất đông người tham dự, đạo đức và sốt sắng, đọc các kinh dâng kính Thánh Tâm Chúa trong khi tôi dâng thánh lễ; và rồi, đến lúc rước lễ, khoảng từ hơn 100 đến 150 người nam nữ, đủ mọi lứa tuổi và địa vị đến bàn thánh để đón nhận Chúa T́nh Yêu! Cùng với họ, có các nữ tu của tu viện Di Loan cảm nhận như bổn phận sống liên kết mật thiết với các tín hữu của tôi.

             Trong các họ nhánh, các tín hữu cũng thấy cần phải thông công vào việc tôn sùng của họ chính và tất cả, hoặc tại nhà thờ, hoặc tại nơi riêng, sáng tối đọc một lời cầu sốt sắng dâng kính Thánh Tâm Chúa.

 

- Năm 1898: (Đức Cha Caspar)

           Cha Barthélémy, Hạt trưởng giáo hạt Đất Đỏ nói: “Điều đă an ủi chúng tôi, đó là mùa gặt các linh hồn. Chúa khấng ban cho chúng tôi thu lượm được trên mọi cứ điểm của giáo hạt: 2.768 người  lớn được tái sinh qua nước rửa tội và trở thành con cái Chúa . Số xưng tội hàng năm và thường xuyên vượt quá 20.600 lượt, và số lượt rước lễ đạt đến 20.573 . Tổng cộng số kitô hữu trong giáo hạt, theo cuộc điều tra có thể thực hiện được là 12.707. Trong số này, chưa kể tu viện các nữ tu (Mến Thánh Giá) Di Loan gồm 69 người , đă có 1605 lượt xưng tội và 7.266 lượt rước lễ. 

 

- Năm 1901: (Đức Cha Caspar)

           Cha Bonhours ghi sổ đă ban phép Rửa Tội cho 8 người lớn, 514 trẻ nhỏ con cái lương dân trong t́nh trạng nguy tử, 2.636 lượt xưng tội và 2.480 lượt rước lễ do ḷng sốt sắng, không kể lượt xưng tội và rước lễ của 34 nữ tu của tu viện (Mến Thánh Giá) Kẻ Bàng.

           Tổng kết năm mục vụ 1900-1901 : rửa tội 460 người lớn, 1.518 trẻ nhỏ con cái người có đạo, 3.479 trẻ nhỏ nguy tử con cái lương dân, 20.741 lượt xưng tội năm, 19.974 lượt rước lễ  mùa Phục Sinh, 64.091 lượt xưng tội và 89.944 lượt rước lễ do ḷng sốt sắng,  bao gồm các lượt xưng tội và rước lễ của 367 nữ tu (Mến Thánh Giá) của Miền Truyền Giáo- Có 1.075 người được ban phép Thêm Sức, 519 người được ban phép Xức Dầu Thánh và 406 đôi lănh Bí tích Hôn Phối. 

 

- Năm 1902: (Đức Cha Caspar)

           Tại Phủ Cam, cha Allys báo cáo có 20 người lớn được rửa tội, 1.146 lượt xưng tội năm, 4.891 lượt rước lễ do ḷng sốt sắng, 36 lượt trao Của Ăn Đàng, 28 lượt Xức Dầu bệnh nhân, rửa tội 74 trẻ con người có đạo, và 82 trẻ con của lương dân. Thêm vào số liệu này, c̣n có các lượt xưng tội và rước lễ của 64 nữ tu bản xứ của tu viện (Mến Thánh Giá) Phủ Cam. 

 

- Năm 1905: (Đức Cha Caspar)

           Thủ phủ của giáo hạt Quảng B́nh là Tam Toà, giáo xứ do cha Bonin lập nên, và nay rất phồn thịnh - Vị trách nhiệm giáo hạt này từ vài tháng nay là cha Chabanon, ngài chỉ muốn như vị tiền nhiệm tận tâm lo cho thiện ích của các linh hồn ngài trách nhiệm.

           Đời sống đạo trong giáo xứ Tam Toà này vẫn duy tŕ trong một mức độ không thể thoả ḷng hơn. Rửa tội 2 người lớn, 349 trẻ em con cái lương dân.

           Ở phía cực bắc của giáo hạt, cha Phẫm và cha Chức hoạt động với hết nhiệt t́nh, vị trước trong một nhiệm sở rất khó là Cù Lạc, vị sau ở nơi khá hơn, giữa những người đạo lâu đời là Bồ Khê- Ở Cù Lạc có 5 người lớn được rửa tội .

           Tại Kẻ Hạc, cha Lavabre chèo chống  giữa những khó khăn có thể nói là khó gỡ ra được. Nhưng trí phán đoán tốt và sự dẻo dai của ngài, cùng với tinh thần đức tin lớn lao, sẽ vượt lên mọi trở ngại. Có 33 trẻ em con cái  lương dân được rửa tội.

           Cách Kẻ Hạc 3 giờ đường  hướng về phía nam, băng qua rừng sâu, người ta gặp được các giáo xứ Kẻ Sen và Kẻ Bàng. Trước kia đây là nơi trú ẩn cho các vị giám mục và các cha thừa sai. Đức cha Sohier có một cảm t́nh đặc biệt đối với khoảnh nhỏ này của Miền Truyền Giáo, v́ ngài đă thường cảm nghiệm được ḷng tận tâm anh hùng của những giáo dân Kẻ Sen với dáng dấp, giọng nói tuy có vẽ hơi khô khan, nhưng có một đức tin không lay chuyển nỗi. Thế nên, Thiên Chúa đă cho phép vị giám mục đáng kính trút hơi thở cuối cùng về với Chúa tại ốc đảo tốt lành này của người kitô hữu  và phó giao thân xác ngài cho những người này ǵn giữ, những kẻ đă rất thường bảo vệ ngài trước những  hiểm nguy trong cuộc sống. Quả thực, chính trong nhà thờ Kẻ Sen, vị anh hùng của những cuộc tranh đấu lớn lao an giấc ngàn thu và chính nơi ngôi mộ ngài, các vị thừa sai và những người kitô hữu thường đến sốt sắng quỳ gối cầu nguyện và lắng nghe được tiếng nói cho mọi người rằng: “Tôi đă đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đă chạy hết chặng đường, đă giữ vững niềm tin” (2Tm 4,7).

           Cha Godet điều hành giáo xứ Kẻ Sen là một vị thừa sai có ḷng nhiệt thành không đo được ở tầm thấp kẻo phải lầm lẫn từ đầu đến cuối. Giờ chưa đến với ngài, và Thiên Chúa biết rơ ngài nóng ḷng chờ đợi biết bao để đến giờ thả lưới nơi những xóm làng lương dân chung quanh ; nhưng phải chăng là không có ǵ khi nuôi dưỡng các linh hồn bằng những giáo huấn vững chắc và làm tăng triển đời sống kitô hữu nơi họ ? Cha Godet hết ḷng lo công việc này và để đạt được thành quả nhiều hơn, ngài vừa xây dựng một trường  do 4 nữ tu thuộc tu viện (Mến Thánh Giá) Kẻ Bàng điều hành. Trường này có 70 học sinh. Ở Kẻ Bàng là họ đạo đông đúc, một trong những giáo xứ tốt nhất của Miền Truyền Giáo, cha Bonhours và toà giải tội của ngài là một. Người anh em này trải qua nhiều ngày tṛn ngồi giải tội, rồi chỉ c̣n thời gian đủ để đọc kinh thần vụ và dùng bữa đạm bạc. Sự chuyên cần rất đáng ca ngợi đó đă làm cho ngài phát bệnh. Tôi đă cho ngài thêm một cha phó trẻ người Việt, cha Thới , để giúp ngài.

           Tu viện nữ tu người Việt (Mến Thánh Giá Kẻ Bàng) và các họ nhánh không mong ước ǵ hơn. Rữa tội 3 người lớn, 32 trẻ em con nhà lương dân...

            Tu viện (Mến Thánh Giá) Di Loan của cha Barthélémy phát triễn rất tốt với hơn 80 nữ tu .

           Bây giờ đến An-Lộng, nơi cha Roux vừa thay cha Hilaire. Nơi này chúng tôi có một trường do các nữ tu bản xứ tu viện (Mến Thánh Giá) Cổ Vưu điều hành...

            Giáo xứ Phủ Cam do cha Allys điều hành từ 20 năm nay với nhà thờ khang trang. Tu viện (Mến Thánh Giá Phủ Cam) gồm 80 nữ tu người Việt, giáo dân khoảng 2.000 người là viên ngọc quí của Miền Truyền Giáo. 

 

- Năm 1906: (Cha Izarn, Bề Trên Tổng Quản)

          Cha Cadière, Hạt trưởng giáo hạt Dinh Cát có ḷng ưa thích đặc biệt việc rửa tội các trẻ hấp hối và ngài được các nữ tu trong tu viện (Mến Thánh Giá Cổ Vưu) của ngài trợ lực một cách đáng thán phục. Các nữ tu này dong duỗi khắp mọi nơi trong vùng để t́m ṭi, người ta có thể nói là săn đuổi các tâm hồn đáng thương chỉ chờ đợi một giọt nước để bay thẳng lên trời. Vă chăng, tất cả các tu viện (Mến Thánh Giá) của Miền Truyền Giáo đều chu toàn nhiệm vụ này làm vui ḷng Thầy Chí Thánh cách đặc biệt, với một ḷng nhiệt thành thỉnh thoảng cũng cần được khích lệ. 

 

- Năm 1908: (Đức Cha Allys)

           Khác với Trung Quán, giáo xứ Tam Toà với 4 họ nhánh gồm 1.169 tín hữu, tu viện các nữ tu (Mến Thánh Giá Tam Toà), 4.007 lượt xưng tội và 9.001 lượt rước lễ. Giáo xứ này hiện nay là thủ phủ của giáo hạt Quảng B́nh và tương đối mới được thiết lập, v́ chỉ có từ năm 1886. Chính cha Bonin lập nên để quy tụ lại những giáo dân của giáo xứ Sáo Bùn cũ hoàn toàn bị loạn quân phá huỷ , trước đây chật hẹp và không thuận lợi, ít bảo đảm an toàn cho những giáo dân mới thoát khỏi giáo mác của những kẻ sát nhân...

          Giáo xứ Tam Toà sở hữu một mảnh đất gần thành Đồng Hới, bên bờ một ḍng sông tuyệt đẹp, cách biển khoảng 1.500mét- Vào năm 1903, số giáo dân là 302 nay lên tới 644- Tất cả các thừa sai chăm sóc giáo xứ này: cha Bonin, cha Bonnand, cha Chabanon và cha Bouhours (đă qua đời) đă góp phần  xây dựng và phát triển giáo xứ...nay là cha Darbon. 

 

- Năm 1911: (Đức Cha Allys)

          Quan trọng nhất trong các giáo xứ của giáo hạt Bên Thuỷ là Phủ Cam. Số giáo dân là 2.442; gần hai phần ba là đạo mới. Cha Stoeffler với cha Hội mới chịu chức trợ lực, lo giáo xứ và cũng hướng dẫn 56 nữ tu bản xứ có cộng đoàn tại đây (Mến Thánh Giá Phủ Cam). 

 

- Năm 1912: (Đức Cha Allys)

           Cha Allo ở Kẻ Bàng từ mấy tháng nay có cha Lượng trợ lực, ngài hoàn toàn dấn thân lo điều hành giáo xứ này và tu viện bản xứ (Mến Thánh Giá kẻ Bàng) đă được lập tại đó. 

 

- Năm 1914: (Đức Cha Allys)

            Về mặt thực hành đạo. Đất Đỏ là một trong những giáo hạt tốt nhất của Miền Bắc Đàng Trong. Trung b́nh lượt xưng tội và rước lễ trong năm là 7 lượt tính theo đầu người chu toàn bổn phận mùa Phục Sinh. Số này c̣n lớn hơn nếu kễ cả Tiểu Chủng Viện An Ninh và tu viện lớn (Mến Thánh Giá) Di Loan. 

 

- Năm 1923  : (Đức Cha Allys)

          Ở Cổ Vưu, số dân công giáo đông hơn trước thảm hoạ năm 1885, dân cư hưởng được một cuộc sống sung túc đầy đủ cũng bằng, nếu không nói là hơn trong quá khứ. Điều c̣n an ủi hơn sự phồn thịnh vật chất đó, chính là cường độ đời sồng đạo mạnh mẽ hơn ngày trước nhiều : trong kỳ mục vụ rồi, số lượt xưng tội  tại Cổ Vưu thôi, không kễ trong các họ nhánh đă lên tới 6.439 trên tổng số 788 người và số lượt rước lễ là 6.957. Một điều góp phần làm cho giáo xứ Cổ Vưu có một sắc thái đặc biệt và được biết đên với đầy thiện cảm trong cả Miền Truyền Giáo, đó là ở gần La Vang và có cộng đoàn  nữ tu (Mến Thánh Giá Cổ Vưu) thay thế hai tu viện Bố Liêu và Nhu Lư dă bị tàn phá hồi năm 1885. Hiện nay cộng đoàn này có 87 nữ tu, trong số này, có khoảng 20 chị ở trong các nhiệm sở khác nhau chăm lo dạy dỗ các trẻ, và có khi cả nhiều người lớn nữa.

          Ở phía trên An Lộng là giáo xứ Đại Lộc, với số kitô hửu tổng cộng  838 người. Trong số các họ nhánh, có một họ gợi nhớ cho chúng tôi giai đoạn khủng khiếp nhất của năm 1885 : gần 3000 kitô hửu, trong đó có 4 linh mục,  ít nữa khoảng 100 nữ tu của các tu viện Bố Liêu và Nhu Lư và nhiều chủng sinh bị lửa thiêu sống ở đó. Tại sao các linh mục, nữ tu và các giáo dân này lại hẹn nhau trong  họ đạo Dương Lộc nhỏ bé đó ? Thật khó nói, bởi v́ nơi đó xem ra không thuận lợi để chống cự lâu dài và hiệu quả ; có lẽ, và đây là lư do khả dĩ được cho là đúng nhất, v́ họ đạo này ở  cạnh một con sông, nên họ nghĩ rằng quân cứu viện  từ Huế chỉ có thể ra bằng đường thuỷ sẽ giải cứu họ ở đó chắc chắn và dể dàng hơn ở các nơi khác. Dẫu sao,  những kitô hửu này chỉ được bảo vệ chống lại loạn quân tàn sát bằng một luỷ tre thô sơ đă làm hết sức ḿnh để đẩy lui những kẻ tấn công; những cố gắng này không phải là vô ích, và có lẽ sẽ làm nhụt chí những quân lư h́nh, nếu nhũng kẻ này không thành công trong việc dùng đuốc châm lửa đốt cháy nhiều điễm của hàng rào tre, và v́ có những ụ rơm, nên lửa cháy lan ra những nhà chung quanh. Chỉ có một ít người có thể chạy thoát.

          Trong số các họ đạo có các kitô hửu đă trốn ở Dương Lộc, phải kễ đến họ Nhu Lư, quê hương của  Á thánh Ximong Hoà . Cũng như khắp các nơi khác, một khi hoà b́nh lập lại, các kitô hửu đă thoát chết cách này cách khác trở về làng ḿnh. Cả một quang cảnh hoang tàn : không c̣n một ngôi nhà nào đứng vững ; gạch nhà thờ đă bị đem đi; tu viện của các nữ tu chỉ c̣n nền đất. Hiện nay Nhu Lư vẫn là một họ đạo tốt lành hưng thịnh : gồm 242 tín hửu , số lượt xưng tội là 3.243 và rước lễ là 4.588, nhưng ít may mắn bằng các trung tâm kitô hửu khác cũng đă chịu rất  nhiều thử thách, họ đạo này c̣n lâu mới có lại được sự phồn thịnh về vật chất và số tín hửu nhiều như trước kia; tuy nhiên cũng phải nói rằng các kitô hửu của các họ nhánh đă tăng thêm và làm cho số tín hửu cộng chung lại là 702 người.

 

- Năm 1930: (Đức Cha Allys)

         Các ḍng tu luôn luôn mang lại những sự phục vụ lớn lao và quư giá cho Miền Truyền Giáo. 7 tu viện Mến Thánh Giá sống bằng công việc tự tay làm ra: các nữ tu dệt vải, dệt lụa và thêu ren. Ngoài những việc đó, các nữ tu người Việt này chia nhau lo các trường học giáo xứ. Một số khác được phân bỗ vào trong ba cô nhi viện và trong các chủng viện, nhờ thế góp phần vào việc giảm thiểu  phí tổn cho các cơ sở này.

 

- Năm 1931: (Đức Cha Chabanon)  

          Các con cái của Thánh Gioan Baotixita de La Salle, các Anh Em Hèn Mọn Thánh Tâm, các Chị Em Ḍng Thánh Phaolô, các Chị Em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm , các Chị Em Mến Thánh Giá cùng liên kết hài hoà đời sống hoạt động và chiêm niệm, biết rất rơ rằng không có cầu nguyện, hy sinh, kết hiệp với Chúa, th́ các công tŕnh bên ngoài của họ sẽ khô cằn, hoặc chỉ trổ sinh những trái trăng chẳng có hương vị ǵ...

           Các nữ tu Mến Thánh Giá, được phân chia trong 7 tu viện, làm thành một tổng số lớn lao đáng kể gồm 496 chị em. Họ điều khiển khoảng ba mươi trường giáo xứ, nơi đó họ dạy đọc, dạy viết cùng với các kinh nguyện và giáo lư; họ đi t́m kiếm những trẻ em lương dân hấp hối để rửa tội cho chúng; họ đứng đầu hai cô nhi viện... nhưng họ sẽ có thể mang lại nhiều thiện ích hơn nữa, nếu có thể được đào luyện về mặt trí thức và tôn giáo, điều buộc phải có ngày nay hơn bao giờ hết và họ hết ḷng trông mong. Khổ thay, để có được điều này th́ cần có nhân sự mà chúng tôi chưa có được và cũng cần có tài lực dồi dào- T́m đâu được giờ để học hành một khi phần lớn thời gian trong ngày, họ phải dệt lụa, dệt  vải hay làm các việc tay chân khác? Rồi t́m đâu ra các cô giáo thực sự có khả năng cho các công việc này? Thế nhưng, phải hành động, không được quá chậm trể, kẻo phải thấy các nữ tu Mến Thánh Giá của chúng tôi là những người rất sẵn ḷng và rất có khả năng phải mất đi sự nễ trọng gắn liền với kiền thức, cũng giống như với đức độ.

 

- Năm 1932 : ( Đức Cha Chabanon)

          Việc tông đồ dưới mọi h́nh thức đă được thực hiện với nhiều thành quả tại trường Pellerin do các Sư Huynh Các Trường Công Giáo điều hành, tại trường Jeanne-d’Arc, tại Trạm khám Pasquier, tại Cô nhi viện Phú Xuân...do các Chị Em Ḍng Thánh Phaolô đăm trách và trong 20 địa điễm của Miền Truyền Giáo do các Chị Em Mến Thánh Giá chăm lo, họ là những người vui vẻ chấp nhận bệnh tật và sống khó nghèo, có khi gần như thiếu mọi sự, và họ đă tỏ ra xứng đáng với tên ḍng tốt đẹp của ḿnh.

 

- Năm 1933: (Đức Cha Chabanon)

            Cùng với các công tŕnh giáo dục, các nam nữ tu sĩ tận tuỵ của chúng tôi c̣n biết liên kết những công tŕnh bác ái. Ngoài viện cô nhi dành cho các ấu nhi do các nữ tu ḍng Thánh Phaolô điều hành, Miền Truyền Giáo c̣n có 3 và có khi là 4 cô nhi viện được các Chị Em Mến Thánh Giá hoặc Con Đức Mẹ Vô Nhiễm điều khiển dưới sự chăm sóc của cha sở . Cô nhi viện trang trại Thanh Tân với hàng trăm con trai, con gái là chiếc nôi của một họ đạo ngày càng lớn mạnh- Những trẻ mồ côi của Nhà Dục Anh , được dưỡng dục trong các cơ sở khác nhau hiện nay lên tới 313 em; nhưng trong suốt năm , biết bao trẻ chỉ ở đó được vài ngày, có khi vài giờ, trước khi bay thẳng về Thiên Đàng! 

 

- Năm 1936: (Đức Cha Chabanon)

            Các trường do các Anh Em Hèn Mọn Thánh Tâm Chúa Giêsu , các Chị Em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và các Chị Em Mến Thánh Giá điều hành tiến triển b́nh thường. 

 

- Năm 1937: (Đức Cha Lemasle)

            Việc  quản trị giáo xứ Tam Toà với 5 họ đạo gồm 2.309 tín hữu, việc hướng dẫn 106 nữ tu Mến Thánh Giá, chia ra trong nhiều tu viện, việc lo cô nhi viện Tam Toà, các công tŕnh xây dựng mới khởi sự và lo hoàn thành tốt đẹp, đă làm cho người anh em tôi là cha Morineau phải nhiều lo lắng. Cô nhi viện trong thời gian rồi chỉ là một đống cḥi tranh chật chội và ẩm thấp, đă được chuyển sang một khu đất vừa đủ rộng và thoáng mát. Các căn nhà mới xây hoặc sữa chữa lại đáp ứng được những đ̣i hỏi về vấn đề vệ sinh. Mới đây, vị Tổng Thanh Tra sức khoẻ cộng đồng ở Đông Dương, bác sĩ Hermant và vị Giám Đốc công tŕnh phục vụ sức khoẻ tại Việt Nam, bác sĩ Le Vestour dừng lại ở Tam Toà, đă ca ngợi cha Morineau về sự chăm nom và  cách tổ chức cơ sở này. Họ nói với người anh em chúng tôi rằng: “Các ngài đă t́m được công thức đích thực cho việc trợ giúp các trẻ mồ côi ở Việt Nam”. Để khích lệ, họ đă tặng ngài 500 Francs nhân danh Nhà Vua và Hoàng Hậu là những người ,vào dịp sinh nhật của một Công chúa Hoàng triều, đă trao tặng một ngân khoản lớn cho các công tŕnh xă hội của Việt Nam.

          Cha Cadière làm bề trên giáo hạt Đất Đỏ cũng lo chăm sóc một tu viện Mến Thánh Giá (Di Loan), trong đó có 12 nữ tu được sung vào các trường khác nhau và nhiều nữ tu khác sắp lo dạy giáo lư và các kinh nguyện cho các trẻ ở các họ đạo lân cận. Tại tu viện Di Loan, cha Cadière đă hoàn chỉnh một xưởng dệt lụa rất đắt hàng trong các môi trường Âu Châu và Việt Nam...

          Số người lương trở lại tại Dinh Cát (do cha Reyne làm Bề trên) đă lên tới 150...Họ đạo Ngô Xá với 596 giáo dân hoàn toàn tân ṭng đă rộng mở tâm hồn theo đạo trước Linh Yên khá lâu, nhưng không sốt sắng bằng. Cha Tin cố gắng bằng đủ mọi cách làm cho ăn sâu vào một nền giáo lư kỉtô tinh tuyền hơn và chống lại việc sùng bái ngẫu tượng (idolâtrie) c̣n rất mạnh mẽ nơi quá nhiều người. Để tạo thuận lợi cho công việc đôi khi cũng gây cực nhọc này, ngài đang xầy cất một ngôi trường và sẽ giao cho các nữ tu Mến Thánh Giá tu viện Cổ Vưu điều hành. Ảnh hưởng thực hiện với đầy khó khăn nơi các người lớn, chắc chắn sẽ có được nơi các trẻ nhỏ và trường này sẽ làm trổ sinh những hoa trái tuyệt vời trên cả người lớn lẫn trẻ em.

          Cha Pieters, ở phía cực bắc giáo hạt Dinh Cát, sẽ hoàn toàn thỏa măn với các con chiên giáo xứ Hương Lâm của ngài, nếu họ chăm lo việc dạy dổ con cái hơn. Từ nay ngài sẽ có được các nữ tu (Mến Thánh Giá) đảm trách công việc này.

          Dương Sơn có một tu viện Mến Thánh Giá gửi các nữ tu không chỉ đến Thanh Tân, nhưng c̣n đi vào các làng khác nhau để lo các trường giáo xứ.

        Trường các trẻ nữ do các chị em Mến Thánh Giá Dương Sơn điều hành là một trường dạy kinh, nhưng ngay khi có thể được, một trường tiểu học sẽ được liên kết vào đó...

 

          Tiếp đến về giáo xứ Phủ Cam, với 3.156 giáo dân và tu viện gồm 47 nữ tu Mến Thánh Giá. Chính Cha Chapuis là cha chính địa phận đứng đầu nhiệm sở này, nơi đă có hơn 20.000 lượt xưng tội và gần 90.000 lượt rước lễ. Ngài có một cha phó trẻ là cha Quí giúp ngài trong công việc nặng nề. Hai trường tiểu học : một cho trẻ nam do các Anh Em Hèn Mọn Thánh Tâm điều hành, một cho trẻ nữ được trao cho các nữ tu Mến Thánh Giá (Phủ Cam) chuẩn bị cho các học sinh đi thi lấy bằng ; một trường dạy kinh bổn qui tụ các trẻ để dạy giáo lư.

 

- Năm 1940: (Đức Cha Lemansle)

            Trước khi kết thúc, tôi xin cám ơn các anh em linh mục thừa sai, các tu sĩ và các linh mục Việt Nam đang tận tuỵ trong các chủng viện, các trường trung học và các trường trong Miền Truyền Giáo... Các Sư Huynh Các Trường Công Giáo thân yêu, các Anh Em Giáo Giảng Viên Thánh  Tâm , các Chị Em Ḍng Thánh Phaolô, các Chị Em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và các Chị Em Mến Thánh Giá đă nhiệt tâm thi nhau lo việc giáo dục và đào tạo giới trẻ. Họ đă được phần thưởng là nhiều học sinh lănh nhận bí tích Rửa tội và nhiều kết quả đạt được trong các kỳ thi  chính thức.

 

  (Trích dịch từ nguyên bản Pháp ngữ Các Báo Cáo Thường Niên  Của Các Vị Giám Mục Giáo Phận Huế gởi Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris từ 1872 đến 1940 do Lê Thiện Sĩ sưu tập)   

             

                                                                                                                                     Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ