Một thoáng nh́n về Ḍng Anh Em Trường Kitô (LASAN) hiện diện và phục vụ tại Giáo phận Huế

( từ 1903 - 1940 )


- Năm 1903: (Đức Cha Caspar)

      Các Sư huynh Trường Kitô (Lasan) đă chấp nhận xây dựng một trường dạy chương tŕnh Pháp ở Huế theo mẫu trường Taberd ở Sài G̣n. Hiện nay các khó khăn đă được loại bỏ. Cơ sở đă bắt đầu được xây dựng và sẽ hoàn tất vào dịp khai giảng các lớp học vào năm 1904- Việc giáo dục của các Sư huynh được mời gọi đạt đến chỗ làm trổ sinh trong giáo phận chúng tôi những hoa trái tuyệt diệu như đă thấy tại Miền Truyền Giáo Tây Đàng Trong (Cochinchine Occidentale). 

- Năm 1904: (Đức Cha Caspar)

      Cơ  sở đẹp đẽ của các Sư huynh  Lasan  đă được khai giảng ở Huế, vào chính ngày lễ Thánh Gioan Lasan ( Jean-Baptiste de la Salle )– Các Sư  huynh đă có nhă ư đặt tên là trường Pellerin (B́nh Linh), để tưởng nhớ vị Giám mục Đại Diện Tông Toà đầu tiên của Miền Bắc Đàng Trong (Cochinchine Septentrionale) . Đă có 50 học sinh : 20 có đạo và 30 lương dân- Trường mới này sẽ góp phần làm cho dân cư thấu triệt những khái niệm trong lành mở rộng con đường cứu rỗi cho các tâm hồn. Những lớp học ban tối sắp quy tụ khoảng hai chục công nhân viên ham thích trau đồi kiến thức nơi những con cái uyên bác và xứng đáng của Thánh Gioan Lasan. 

- Năm 1905: (Đức Cha Caspar).

      Các Sư huynh Lasan cũng đă lập tại Huế  một trường trung học cho các trẻ Pháp, lai và Việt. Các nhà giáo dục giới trẻ khôn sánh này  hiện nay tại Pháp bị người ta đối xử một cách lạnh nhạt, lại thành công khắp mọi nơi họ đến- Trường của họ đă có 70 học sinh. Tôi chúc cho các Sư huynh thân yêu này đang góp phần trợ lực quư báu cho chúng tôi thấy được số học sinh ngày càng thêm đông đến độ làm cho các cơ sở họ đang có này trở nên kín chỗ giữa một cảnh trí đẹp nhất của thành phố- Trước tiên các Sư huynh đă phải tranh đấu lâu ngày để sở hửu được  mảnh đất xây dựng trường ; rồi họ  đă phải chịu đựng cách khắc nghiệt trận cuồng phong và lửa cháy. Nhưng không có ǵ đă làm năn chí và sẽ không ǵ làm năn ḷng những con cái xứng đáng của Thánh Gioan Lasan này. 

- Năm 1906: (Cha Izarn, Bề Trên Tổng Quản)

      Trường Pellerin do các Sư huynh Lasan điều hành vào tháng 3 rồi có 75 học sinh: 43 nội trú và 32 ngoại trú. Cuộc văn nghệ giúp vui vào dịp phát thưởng đă  cho người ta thấy rơ ràng những bước tiến triển đă được thực hiện. Tôi tự hỏi chẳng phải v́ các nhà giáo dục trổi vượt này đă bỏ lại đằng sau các người ganh đua khác để theo đuổi với bao nhiêu năng nỗ cho đến nơi vùng đất này sao ?!

- Năm 1908: (Đức Cha Allys)

      Trường Pellerin  đi từ thành công này đến thành công khác. Sẽ càng đơm hoa kết trái nhiều hơn nữa nếu không có những tiếng dèm pha được gieo rắc do những kẻ thù hằn các công tŕnh Công Giáo với mục đích làm cho các bậc cha mẹ đừng gởi con cái họ cho chúng tôi.

      Hiện nay, sự thật bắt đầu được sáng tỏ, và các mối thiện cảm đối với các Sư huynh lớn dần trong lương dân. Không chỉ có các gia đ́nh thuộc giai cấp trung lưu dẫn con cái họ đến với các Thầy Ḍng, mà những quan chức chính quyền Việt Nam không c̣n để tâm đến việc người ta sẽ nói ǵ. Chính họ không ngần ngại trao phó các con trai con gái của họ cho những Thầy Ḍng, mà ai ai cũng biết đến kiến thức và ḷng tận tâm của những vị này. 

- Năm 1909: (Đức Cha Allys)

      Các trường của các Sư huynh và các Chị em Ḍng Thánh Phaolô phát triển tốt đẹp; nhưng người ta cũng ước mong số học sinh tăng thêm với tỉ lệ cao hơn. 

- Năm 1910: (Đức Cha Allys)

      Công tŕnh các trường học cũng khá phát triển. Số học sinh đă tăng thêm trong các cơ sở do các Sư huynh Lasan điều hành; và nhờ vào tiếng tăm có được do nhiều học sinh của các trường này đạt kết quả một cách vẽ vang trong các kỳ thi vừa rồi, người ta có thể vững tin rằng trường Pellerin sẽ ngày càng thịnh đạt. 

- Năm 1911: (Đức Cha Allys)

      Trường Pellerin đă c̣n có nhiều niềm vui thấy số học sinh của ḿnh tiến triển tốt. Chi nhánh trường này được thiết lập tại một trong những khu đông dân cư nhất ở Huế, sau vài tháng đă được hơn 50 trẻ đến học. Sự tăng triển nhiều học sinh trong hai cơ sở này là do sự tận tâm vô bờ bến của các Sư huynh thân yêu của chúng tôi đă bỏ ra để dạy dỗ và giáo dục các trẻ được giao phó cho ḿnh và cũng nhờ thành quả các học sinh đạt được hoặc trong các kỳ thi thường lệ ở Huế hoặc trong các kỳ thi đặc biệt đă diễn ra tại Hà Nội cho một số nhỏ trẻ Việt Nam được tuyển chọn trong toàn cơi Đông Dương. 

- Năm 1912: (Đức Cha Allys)

      Chúng tôi vui mừng về sự phát triển tốt đẹp của các trường do các Sư huynh và các Chị em Ḍng Thánh Phaolô điều hành. Các học sinh trường Pellerin ngày càng đông; nên khó có đủ chỗ cho các học sinh nội trú từ khắp nơi đến xin. Trường chi nhánh Gia Hội hoạt động làm thoả măn các giáo viên tận tâm, từ rày các thầy dạy này có được cơ sở hoàn toàn sắp đặt theo ư ḿnh muốn: họ sẽ có thể sửa sang tốt hơn và sẵn sàng tăng thêm số học sinh. 

- Năm 1913: (Đức Cha Allys)

      Năm nay, các trường do các Sư huynh Lasan điều hành đă thịnh đạt như trong qúa khứ , có khi c̣n hơn nữa nếu xét đến số học sinh vào học. Được thịnh đạt như vậy là do sự tin tưởng của các gia đ́nh công giáo và lương dân, và nhờ sự tận tâm của các thầy giáo . Chính việc này đă làm cho một số quan chức ganh ghét, điều được thấy rơ qua sự thiên vị trong các kỳ thi do các quan chức này làm giám khảo- Hy vọng rằng cách hành xử này sẽ không thành thói tục ở Việt Nam. 

- Năm 1914: (Đức Cha Allys)

      Các trường của các Sư huynh trong t́nh trạng tốt ; thật không liều lĩnh để tin rằng số học sinh của các trường này sẽ ngày càng cao hơn, nếu chúng tôi tiếp tục hưởng được sự an b́nh và tự do mà cho đến hôm nay chúng tôi đă có được trong một mức độ đủ để đạt được những kết quả đầy an ủi. 

- Năm 1916: (Đức Cha Allys)

      Cậu Thích là con của một quan chức cao cấp Việt Nam đă theo học nhiều năm tại trường Pellerin, vào thời đó do một Sư huynh tốt lành và tạo được nhiều thiện cảm là Sư huynh Aglibert điều khiển. Cậu Thích đă có rất nhiều tiến bộ về đủ mọi mặt và có thể được nêu lên như tấm gương tốt cho bạn bè.

      Khỏi cần nói về việc cậu được các thầy giáo quư chuộng và yêu mến, những người này rất ao ước thấy cậu trở thành kitô hữu. Ước nguyện này được các Sư huynh trao đổi với nhau và coi như có bổn phận phải cầu nguyện với Chúa đă thấy thành sự.  Nhưng không phải là không có khó khăn- Cha mẹ cậu Thích ít có thiện cảm với đạo Công Giáo- khi thấy lối sống đạo đức con ḿnh thể hiện từ khi học tại trường Pellerin, họ thấy ngay và sợ rằng nếu con ḿnh c̣n giữ liên hệ lâu dài hơn nữa với các Sư huynh, không sớm th́ chầy con ḿnh sẽ theo Đạo và họ đă đạt được việc làm cho cậu Thích được bổ nhiệm làm thầy giáo tại Nha Trang, trong tỉnh Khánh Hoà, nơi cha cậu làm Tổng đốc (préfet). Mọi người đều nghỉ rằng xa Huế như thế sẽ làm cho thay đổi tư tưởng người trai trẻ này và sẽ cất khỏi cậu măi măi ư nghĩ muốn làm kitô hữu.

      Thế nhưng điều ngược lại đă xảy đến- Được một vị thừa sai khuyên dạy và giáo huấn, càng ngày cậu Thích càng bày tỏ ư muốn làm người có Đạo- Nhưng v́ người ta chắc chắn rằng cha cậu sẽ không bao giờ chấp thuận một bước tiến như thế, nên cậu được quyết định cho chịu phép Rửa tội mà không cho gia đ́nh biết. Gia đ́nh cậu chỉ biết được bởi một sự lộ ra lâu sau khi cậu Thích đă trở thành kitô hữu .

      Tôi sẽ không cần diễn tả sự giận dữ của mọi người thân thích của cậu, cũng không cần kễ lại nhiều lời  hăm doạ mắng chưởi do vị  Tổng đốc thốt ra chống lại Đạo và cả người con đă ôm ấp đạo đó. Chỉ cần nói rằng vị quan này sau khi thấy các lời mắng chưởi  hăm doạ của ông vô ích , liền sai quân lính đem cậu về đánh đ̣n nặng nề, truyền cho con ông sẽ phải chịu các h́nh phạt c̣n nặng nề dữ dằn hơn nữa nếu không lấy chân dày đạp Thánh Giá và bỏ Đạo. Sự kiên vững của người tuyên xưng đức tin trẻ tuổi này không bị lung lay chút nào bởi những đối xử bất xứng như thế.

      Chịu thua, người cha mất hết tính chất và có óc chống Đạo đó vẫn c̣n hy vọng sẽ đạt được kết quả  khi vận dụng  quyền uy của các vị quan cao cấp ở triều đ́nh Huế- V́ vậy, vào dịp ông và con ông du hành về Kinh đô, cậu con này buộc phải tŕnh diện trước các vị thượng thư của vua Duy Tân, những người này sẽ không ngại một phương tiện nào để làm hoảng sợ cậu Thích và đưa dẩn cậu đến chỗ bỏ Đạo.

      Nhưng được Chúa nâng đỡ, cậu Thích đă vượt thắng cuộc đột kích này, vă lại điều này không dữ dằn cho bằng việc cậu phải chịu đau khổ hằng ngày từ phía mẹ cậu- Người mẹ này giận dữ v́ con ḿnh trở lại Đạo , dứt khoát muốn bắt cậu quyết định bỏ Đạo - Để đạt được kết quả này, bà tung ra mọi thủ đoạn: dụ dỗ, khóc lóc, mơn trớn, hăm doạ, cả việc hăm doạ tự tử, nếu con ḿnh không rút lui quyết định theo Đạo.

      Đau khổ thật nhiều khi thấy bị hành hạ bởi cha mẹ là những người cậu hết ḷng thương mến và rất mong ước ḿnh cũng được vui hưởng t́nh thương của các ngài , nhưng cậu Thích vẫn một mực trung thành không lay chuyển đối với các lời hứa của ngày chịu phép Rửa tội và trong suốt nhiều tháng, nếu không nói là trong nhiều năm, cậu đă sống có thể nói là cô đơn giữa gia đ́nh ngoại giáo, gặp phải bao lời chưởi mắng liên tục và những nỗi buồn khổ phải chịu để có thể giữ được điều đó.

      Trong thử thách lâu dài và thật nặng nề đó, người tân ṭng can đảm này đă được nâng đỡ bởi chuyên chăm cầu nguyện , siêng năng chịu các Bí tích và nhờ những lời khuyến khích nâng đỡ của một vài người thông cảm hoàn cảnh cực nhọc của cậu.

      Cuối cùng, Chúa dủ ḷng thương người tôi tớ trung thành . Chịu khuất phục bởi sự dịu hiền mà cứng cáp của con ḿnh, cha mẹ cậu sau cùng đành để cho cậu yên và đă từ lâu, cậu có thể tự do  không bị quấy rầy trong việc chu toàn các bổn phận của một người kitô hữu sốt sắng- Cũng như hoàng tử Thuyền tôi đă nói trước đây, cậu Thích rước Chúa thường xuyên bao nhiêu có thể, nghĩa là gần như mọi ngày. Nhưng công việc thầy giáo  trong một trường công ở Huế không cho phép cậu tham dự thánh lễ mỗi buổi sáng. Cậu đă xin phép được rước Chúa ngoài thánh lễ. Ân huệ này được ban cho cậu với biết bao dễ dàng v́ đời sống trầm mặc của cậu là một sự chuẩn bị liên lĩ cho việc rước Chúa Thánh Thể và một sự tạ ơn thường xuyên- Ước ǵ chúng tôi có được hàng ngàn tân ṭng sốt sắng và tốt lành cũng như hoàng tử Thuyền và thầy giáo Thích. 

- Năm 1917: (Đức Cha Allys)

      Tuy nhiên có một công tŕnh mà t́nh trạng không ổn định đă và đang c̣n là một vấn đề phải nhiều lo toan và rất mệt nhọc đối với chúng tôi, đó là các chủng viện- Trong ṿng 4 năm chúng tôi đă chẳng có lớp nào nhập tiểu chủng viện, và nếu chúng tôi chỉ xem xét về các nguồn tài chính có thể có được, chắc hẳn rất có thể chúng tôi sẽ c̣n dời lui việc nhận thêm các lớp mới- Nhưng, do nhu cầu, chúng tôi cảm thấy cần có thêm số các linh mục bản xứ. Và xét v́ số tiểu chủng sinh hiện có chỉ là 25, chúng  tôi đă tin rằng có thể và cả việc phải tin vào Chúa Quan Pḥng, nên ngày 8/9 vừa rồi, 45 học tṛ mới đă hân hoan nhập vào cơ sở thân yêu của chúng tôi- Tất cả các học tṛ này đều mạnh khoẻ, ăn uống ngon lành, và nếu xét theo những lời giới thiệu được mang đến, th́ tất cả đều sẵn sàng dốc sức để đạt được kiến thức và đạo đức-Trong số này có Giuse Thích là người tân ṭng mà cuộc trở lại đă được kể trong báo cáo năm rồi. Mặc dầu cả gia đ́nh chống đối và cũng nhờ nhiều lời khuyên bảo thân t́nh và vô tư của những vị hiền triết khôn ngoan trao đổi , người trai trẻ này sau khi thấy những ao ước của ḿnh bị hoăn lại lâu ngày, cuối cùng đă có thể tự nguyện và vui vẻ từ bỏ một địa vị ở Việt Nam được coi là được kính nễ và sinh lợi, để vào tiểu chủng viện. Những kiến thức hiểu biết đă có được, sự thông minh và tuổi tương đối lớn cho phép hy vọng rằng Giuse Thích sẽ có những tiến bộ nhanh chóng trong việc học tiếng Latinh. Ước mong cậu trung thành với ân sủng và một ngày kia trở thành một người thợ tuyệt vời trong cánh đồng truyền giáo của Người Cha đại gia đ́nh nhân loại .

- Năm 1918: (Đức Cha Allys)

      Nhiều gia đ́nh Công Giáo và cũng nhiều gia đ́nh lương dân sẽ hân hoan gửi con cái ḿnh nơi các Sư huynh Lasan . Nhưng v́ chưa thể xây dựng cơ sở mới , nên các Sư huynh tốt lành này buộc phải từ chối nhận thêm các học sinh, nhất là các em nội trú. 

- Năm 1920: (Đức Cha Allys)

      Trường Pellerin và chi nhánh là trường Saint-Louis ngày càng phát triển tốt đẹp làm tôi rất vui mừng - Mặc dầu năm nay các Sư huynh thân yêu đă mở rộng thêm các cơ sở. nhưng vào dịp khai giảng vừa rồi họ đă phải từ chối một số lớn học sinh ngoại và nội  trú, v́ các pḥng học không đủ chỗ ,cũng như pḥng ăn và pḥng ngủ. Hy vọng rằng sẽ có thể nhanh chóng nâng cấp các nơi mới. 

- Năm 1923: (Đức Cha Allys)

      Các trường ở Huế do các Sư huynh Lasan nắm giữ không có đủ nhân sự người Âu, không chỉ không tiến triển, nhưng phải chịu một sự sa sút khó nâng lên  được.

                - Năm 1924: (Đức Cha Allys)

      Trong hai ba năm rồi, v́ những nguyên do hoàn toàn bất ngờ, trường Pellerin đă thấy giảm sút số học sinh rất nhiều. Năm nay, tôi vui mừng nhận thấy t́nh trạng trường này phát triễn tốt đẹp đến độ đă và đang c̣n phải từ chối nhận thêm học sinh : chỗ không đủ để tiếp nhận và nhân sự không đủ để giảng dạy. Chính Sư huynh Giám Tỉnh Các Trường Kitô trong toàn cơi Đông Dương cũng buộc phải phụ trách một lớp.

- Năm 1929: (Đức Cha Allys)

      Ngoài một trường do các Sư huynh Lasan nắm giữ và một trường do các Chị em Ḍng Thánh Phaolô điều hành, Miền Truyền Giáo mới chỉ có các trường giáo xứ để dạy chủ yếu các kinh nguyện và giáo lư- Chúng tôi chưa có các trường tiểu học đúng nghĩa. 

- Năm 1931: (Đức Cha Chabanon)

      Các con cái của Thánh Gioan Lasan , các Anh em Hèn Mọn Thánh Tâm, các Chị em Ḍng Thánh Phaolô, các Chị em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, các Chị em Mến Thánh Giá cùng liên kết hài hoà đời sống hoạt động và chiêm niệm, biết rất rơ ràng không có cầu nguyện, hy sinh, kết hiệp với Chúa, th́ các công tŕnh bên ngoài của họ sẽ khô cằn, hoặc chỉ trổ sinh những hoa trái chẳng có hương vị ǵ.

     Trường Pellerin vẫn phát triển tốt đẹp và đạt được những thành quả đáng chú ư. Nhưng thật rất đáng tiếc v́ các Sư huynh thân yêu của chúng tôi do thiếu nhân sự, nên bị buộc phải bỏ bớt trường ngoại trú Gia Hội Đông Ba- Khu vực đông dân cư này của thành phố Huế có nhiều trường công lập với nhiều học sinh. Một vị mục sư Tin Lành mới đến lập cư ở đây và mở nhiều cuộc diễn thuyết đạt được kết quả rất khả quan do người ta ṭ ṃ muốn biết- Tương lai sẽ thế nào? Nơi đó chúng tôi có một cộng đoàn kitô hữu nhỏ bé với một nhà thờ rộng răi và tạo được cảm xúc . Hy vọng rằng trường của các Sư huynh trước đây thịnh đạt sẽ hồi sinh chứ không mất đi. 

- Năm 1932: (Đức Cha Chabanon)

      Việc tông đồ dưới mọi h́nh thức đă được thực hiện dưới nhiều thành quả tại trường Pellerin do các Sư huynh Lasan điều hành, tại trường Jeanne-d’Arc, tại Trạm khám Pasquier, tại cô nhi viện Phú Xuân do các Chị em Ḍng Thánh Phaolô đảm trách và trong 20 địa điểm của Miền Truyền Giáo do các Chị em Mến Thánh Giá chăm lo, họ là những người vui vẻ chấp nhận bệnh tật và sống khó nghèo có khi gần như thiếu mọi sự và họ đă tỏ ra xứng đáng với tên ḍng tốt đẹp của ḿnh. 

- Năm 1934: (Đức Cha Chabanon)

      Đồng thời với phong trào Hướng đạo, cũng đă phát sinh “Hội Ái Hữu các cựu học sinh Pellerin” nhờ sự thúc đẩy của Sư huynh Dominique năng động và gây nhiều thiện cảm- Một trong những hoạt động đầu tiên của hội Ái Hữu này là dựng tượng bán thân của  vị hiệu trưởng đầu tiên, cố Sư huynh Aglibert-Marie, nhà giáo dục lăo luyện, vị tu sĩ đạo đức, và người tông đồ nhiệt thành . Kỷ niệm về Thầy vẫn rất sống động trong ḷng của tất cả những ai đă biết đến Thầy. Tượng bán thân bằng đồng này sẽ ghi lại măi trong trường Pellerin niềm tưởng nhớ vị Thầy được mến yêu và tôn kính- Lễ khai trương đă được tổ chức ngày 17/12 và càng thêm long trọng bởi sự hiện diện của Sư huynh Junien  rất đáng kính, phụ tá Bề Trên Tổng Quyền và là người kể từ đó đảm nhiệm việc điều hành toàn thể Nhà Trường - Thời gian lưu lại Huế của Sư huynh Giám tỉnh dễ mến và cao quư đối với con cái của Thánh Gioan Lasan đă là một sự khích lệ nâng đỡ thực sự và mang lại một sự khuây khoả an vui cho các lo toan của các Sư huynh – Lo âu hiện nay là sự giảm sút liên tục số học sinh. Không phải giới học sinh ít đông đúc hơn trước kia, ngược lại người ta thấy mọc lên từ mọi phía những trường học đủ các cấp, do những người đă đậu các bằng cấp mà không có việc làm- Nhưng thời buổi khắc khổ , nhiều cha mẹ chịu cảnh nghèo khó và chỉ biết lo cho con cái họ học kiến thức hơn là lo việc giáo dục,  đành gởi con cái họ vào những nơi giá học phí rẽ. 

- Năm 1935: (Đức Cha Chabanon)

      Chị em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm vừa lập thêm một trường ở Huế, ngay giữa thành phố... Ngôi trường khiêm tốn này gọi là trường thánh Agnès. Đây là trường Saint- Louis cũ, chi nhánh của trường Pellerin trước đây và con cái Thánh Gioan Lasan đă phải rời bỏ, v́ thiếu nhân sự giảng dạy. Sự thiếu nhân sự nhất là người Pháp này không thể không gây thiệt tḥi cho chính trường Pellerin, trường duy nhất mà các Sư huynh Lasan có được trong Miền Truyền Giáo. Tuy nhiên ngày nhập học vào tháng 9 khá tốt đẹp và làm nảy sinh ḷng tin tưởng. 

- Năm 1938: (Đức Cha Lemasle)

      Trong tất cả các cơ sở giáo dục của chúng tôi, trường Thiên Hữu (Providence) làm tôi lo lắng nhiều nhất... Trong tháng tám, một tháng trước ngày tựu trường, chúng tôi không có đủ số giáo sư cho năm học mới. Một số anh em có ư kiến bỏ đi một vài môn học, một số khác cho rằng nên đóng cửa trường đi thôi. Nhưng nhờ Chúa Quan Pḥng và nhờ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu là Đấng tôi đă kư thác ngôi trường này cách đặc biệt, số giáo sư bị thiếu đă có thể t́m được. Các lời thỉnh nguyện đă được gởi đến Đức Khâm Sứ Toà Thánh tại Đông Dương và các Đức Giám Mục Đại Diện Tông Toà Thanh Hoá và Hưng Hoá cũng như đến Sư huynh Giám Tỉnh các Trường Kitô rất thân yêu, đă được đáp ứng. Đức Khâm Sứ Drapier đă cho chúng tôi một trong các vị thư kư của Ngài, cha Trémau; Đức Cha De Cooman gửi cha Clauzier; Đức Cha Vandaele gửi cha Mazé, Sư huynh Donatien-Jules gửi thầy Xavier, cử nhân khoa học. Hơn nữa, cha Larouche, Bề trên Đệ tử viện Ḍng Chúa Cứu Thế, nhận dạy môn giáo lư tại trường này. Tôi xin kính gửi đến tất cả các vị lời cảm tạ chân thành... 

- Năm 1939: (Đức Cha Lemasle)

      Trường Pellerin do các Sư huynh Lasan điều hành, trường Jeanne -D’Arc do các Chị em Ḍng Thánh Phaolô, các trường của các Chị em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm , trường của các Chị em Mến Thánh Giá có số học sinh tăng triển tỉ lệ cao và các học sinh này đạt được những kết quả đầy khích lệ cho các thầy cô... 

- Năm 1940: (Đức Cha Lemasle)

      Trước khi kết thúc, tôi xin cám ơn các anh em linh mục thừa sai, các tu sĩ và các linh mục Việt Nam đang tận tuỵ trong các chủng viện, các trường học và các trường trong miền Truyền Giáo...

      Các Sư huynh Lasan, các Anh em Giáo Giảng Viên Thánh Tâm, các Chị em Ḍng Thánh Phaolô, các Chị em Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và các Chị em Mến Thánh Giá đă nhiệt tâm thi nhau lo việc giáo dục và đào tạo giới trẻ. Họ đă được phần thưởng là nhiều học sinh được rửa tội và nhiều kết quả đạt được trong các kỳ thi  chính thức.

(Trích dịch từ nguyên bản Pháp Ngữ  “Các Báo Cáo Thường Niên  của các vị Giám Mục giáo phận Huế gởi Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris từ 1782 đến 1940” do Lê Thiện Sĩ sưu tập). 

                                                                   

                                                                                        LM. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ