Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm C – Vài bài suy niệm về Lời Chúa (I)

In

Gs 5,9a.10-12 / 2Cr 5,17-21 / Lc 15,1-3.11-32

+++

Thiên Chúa Giàu Lòng Xót Thương

      Tin mừng Luca chương 15 là 3 dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa : dụ ngôn về con chiên lạc trong số một trăm con chiên (1/100); dụ ngôn về  đồng bạc bị đánh mất (1/10) và dụ ngôn "người con hoang đàng" (1/2). Tin mừng chúa nhật thứ tư mùa Chay năm C là dụ ngôn thứ ba này. Đây thực là "một tin mừng (nhỏ) trong một Tin mừng (lớn)". Thực ra, gọi là dụ ngôn "người con hoang đàng" thì không đúng lắm, có lẽ gọi là "Người Cha Hoang Phí" thì đúng hơn, bởi lẽ người cha đã hoang phí tình yêu của mình cho các con của ông. Dung mạo người cha mới là điểm chính yếu. Người cha đã đồng ý chia gia tài cho người con thứ (đây là điều không hợp luật), vì theo quan niệm Trung Đông, người con không có quyền đòi chia gia tài khi người cha vẫn còn khỏe mạnh. Người cha chính là hình ảnh của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa "hoang phí" tình yêu cho nhân loại, dù Người biết nhân loại vẫn tội lỗi, ích kỷ, muốn sống độc lập với Người, thậm chí muốn loại trừ Người. Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của nhân loại.

      Tình yêu của người cha đã đón nhận người con thứ  trở về sau những ngày ăn chơi phung phí. Tình yêu của người cha đã mời người con trưởng chung vui vì người em trở về. Thiên Chúa cũng vậy : qua Đức Giêsu, Người vui mừng đón nhận những tội nhân thống hối và mời gọi tất cả mọi người cùng vui mừng và chia sẻ với Người.

      Người con thứ xin Cha chia gia tài để trẩy đi phương xa. Người Cha sẵn sàng chia gia tài. Cha hắn để cho hắn tự do, không cấm cản gì. Hắn không vi phạm một  điều luật nào hết. Thực ra, hắn tưởng mình có thể định đoạt tất cả. Hắn ra đi không phải vì ý muốn sa đọa thúc đẩy đâu, nhưng vì khao khát sống mạnh, sống ngoài vòng kiểm soát của Cha, vì háo hức khao khát kinh nghiệm, vì muốn biết cái mới lạ, nhưng lại không có bản lãnh, hung hăng quá trớn, thiếu ý chí. Khi ra đi là hắn xúc phạm đến cha. Mối giây ràng buộc với cha lớn gấp nhiều lần mối giây ràng buộc với lề luật.

      Sau những ngày ăn chơi phung phá, hắn trắng tay. Hắn cảm thấy trống vắng, thiếu thốn tất cả. Hắn quyết định trở vê nhà Cha. Khi quyết định như thế,hắn đã nhận ra chính mình, giới hạn của mình. Chân lý bắt đầu khi con người nhận ra chính mình. Hắn hạnh phúc vì đã dám thú nhận : thưa cha, con đã xúc phạm đến trời và đến Cha. Hắn hạnh phúc vì đã dám tin vào tấm lòng của cha, sự tha thứ của cha. Hắn hạnh phúc vì đã trở về. Không phải vô lý đâu, khi Đức Giêsu đã có lần nói : Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước trời trước hết.

      Thế  nhưng, không thiếu những người tưởng rằng mình thánh thiện, ngoan đạo, tự cấp cho mình quyền đòi hỏi bất cứ gì. Và cũng không thiếu những người tự hài lòng với việc chu toàn đầy đủ lề luật. Đó là hình ảnh của người anh cả. Người anh cả tưởng mình là người công chính, vì chu toàn hết mọi lề luật. Điều cần có anh đã không có, đó là tấm lòng thông cảm, chia sẻ, nhất là chia sẻ những tội lỗi, những giới hạn của người khác. Anh là hình ảnh của những kẻ tự cho mình quyền xét đoán người khác".

      Đức Giêsu chính là người cha đó. Người không màng chi đến quá khứ của người tội lỗi. Tình cha còn lớn hơn quá khứ đó, còn lớn hơn sự hối hận, dày vò của người con. Thiên Chúa tha thứ tất cả.

      Chúng ta là người con cả hay người con thứ trong bài Tin Mừng hôm nay ?

Lạy Chúa,  
Con xin dâng Ngài, lời thú tội của đứa con hoang :  
Trước mặt Chúa, con đã phạm tội,  
con đã hoang phí kho tàng ân sủng Chúa trao cho con,  
xin nhận lòng sám hối của con.

Lạy  đấng Cứu thế, xin cứu chuộc con.  
Như người con bỏ nhà đi hoang, lạy Chúa,  
con nay trở về sau khi đã phí phạm đời con, lòng xa cách Chúa.

Lạy Cha, con đã hoang phí của cải Chúa ban cho con.  
Xin nhận lòng sám hối của con và xót thương con.  
Con đã thẳng tay phung phí tài sản của Cha, con sống cô đơn, cùng cực trên mảnh đất của những người trụy lạc.

Lòng con hối hận, con xin trở về với Cha,  
lạy Cha nhân ái, xin nghe lời con van nài :  
"Thưa Cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha,  
con chẳng đáng là gọi là con Cha nữa,  
xin coi con như một người làm công cho Cha vậy,  
và xin thương xót con".

(Phụng vụ Byzantin)

An Phong op

++++++++++++
Cả  Hai Đều Hoang Đàng Cả

      Chúng ta, người thì “ngoan ngoãn” ở yên trong nhà, kẻ thì ngu muội cứ nghe những tiếng gọi vi vu từ xa khơi gió lộng, vâng, cả hai chúng ta đều là những đứa con hoang đàng cả. Đứa con thứ, bỏ cha mẹ làng mạc mà lang thang tiếu ngạo giang hồ, thì đã rõ hắn là tên mất dạy, là đứa đi hoang. Nhưng anh con cả, đàng hoàng, đều đặn, tối sớm thứ tự nết na, quanh quẩn bên góc vườn xó bếp, ảnh cứ tưởng ảnh là trưởng tử ngon lành.

      Không đâu ! chất đi hoang không tùy thuộc việc đàng hoàng đạo mạo trong nhà hay phiêu bạt tơi bời giữa giang hồ lộng gió. Đi hoang, là dù ở đâu, làm việc gì, mà vẫn không cảm nhận Tình Cha, và vì thế cũng đánh lạc mất hồn mình, đánh lạc mất bản chất cao quí của mình. Đi hoang, là không biết rằng Ánh Mắt Cha vô cùng ấm áp. Đi hoang, là chẳng biết Lòng Cha là một bầu trời mà mình bay mãi lặn mãi chẳng bao giờ có chỗ tận cùng. Và vì không biết Lòng Cha như thế, nên cũng quên mình là cậu ấm, là con giống cháu giòng, là tay qúi phái cao sang. Và càng không biết rằng mình đang được lượn múa giữa cả một Bầu Trời rất mới, rất êm, rất rộng....

      Chao ôi, chất đi hoang nó nằm trong chúng ta sâu xa đến thế. Hầu hết chúng ta đều là những chàng con cả. Là con cả mà không sống như người con cả. Chúng ta lụi hụi lúi húi như một kẻ làm thuê. Chúng ta lấm lét dòm dỏ Cha như thằng ăn trộm. Chúng ta thu vén nhặt nhạnh tính toán như tên bần tiện bủn xỉn tầm thường. An thân trong bầu trời Lòng Cha mà sao chẳng thênh thang hạnh phúc.

      Đôi thằng, cảm thấy tù túng ngột ngạt vì lối sống chật chội như thế, bèn bứt phá xông ra. Hắn thèm bầu trời. Hắn thèm sự sống. Hắn khát tình yêu. Hắn mơ cơn gió. Hắn đợi cơn mưa. Hắn nhớ những đồi cao lũng thấp. Hắn chờ đợi những buổi bình minh thức dậy tinh khôi và những chiều vàng hoàng hôn lẫm liệt. Hắn bèn cãi cự với Cha như đấu tranh với ông trưởng ngục. Hắn dành lấy cái tự do theo kiểu hắn, thứ tự do mà “Ông Già” lom khom kia đã tước đoạt của hắn tự bao giờ ! Và hắn lên đường. Áo quần tơi tả, tóc rối tung bay, bước chân chim nhảy nhót giữa ngàn phương mới lạ. A ha ! Tự do hạnh phúc cứ từng phút từng giờ mở phơi ra những chân trời viễn mộng đắm say. Thênh thang qúa, viễn mộng qúa, mới lạ mênh mông quá, đến vập mặt mình xuống máng cám heo ! Ngàn khơi gió lộng qúa, nên cả xác hồn được thổi tung tơi tả ! Những chập chùng phiêu lãng quá, nên gối mỏi chân rung, xương máu tan tành ! A ha ! Ta đã sống. Ta đã được sống. Nhưng cái sống ngất ngây này lại khiến thân tàn ma dại. Và bầu trời tự do quá rộng lại đưa đến nỗi hoang liêu trống vắng ghê hồn ...

      Cuộc sống đúng là tù ngục. Ở yên lơ láo an thân với nề nếp công việc mỏi mòn cũng là tù ngục. Mà ra đi dấn thân vào gió bụi giang hồ cũng là mỏi mòn tù ngục. Chất tù ngục nằm ở trong chính bản thân. Chất vong thân hoang dại đã từ kiếp nào nhiễm nặng vào máu thịt. Chạy đâu cũng chết. Sống kiểu nào cũng là bế tắc. Và bấy giờ, chỉ có một con đuờng duy nhất, đó là, dám thấy và dám để cho Cha đón rước mình như MỘT ĐỨA CON. Và cuộc Ra Đi đích thực nào cũng thế, dù là con thứ hay con cả, thì mỗi người vẫn cần phải Ra Đi, Ra Đi để Trở Về với Lòng Cha Nhân Hậu.

      Đã từ bao đời mấy kiếp rồi đó nhỉ, chúng ta, những người Kitô hữu, chúng ta đã chỉ nói, chỉ nghe và chỉ sống như những người con cả. Chúng ta ràng rịt mình, ràng rịt nhau để lơ láo nép thân cách chật chội như người con cả. Chúng ta không bao giờ dám bứt phá ra đi. Nhưng bứt phá ra đi, là bứt phá với tâm thức lề luật, bứt phá với tâm thức nô lệ, bứt phá khỏi xiềng xích của những khuôn thứơc gíáo điều chật chội. Chúng ta ở trong Nhà Cha nhưng lại chẳng cảm được sự mênh mông đích thực của Lòng Cha. E dè. Sợ hãi. Tính toán. Lập công lập phúc. Lo thưởng sợ phạt... Và cơ cấu, chức quyền, để rồi, ta gùn ghè ganh tị đo đếm với nhau. Ta đưa đôi mắt con buôn để đo đếm tính toàn từng li từng tí Tấm Lòng Người Cha Nhân Hậu. Có khi nào chúng ta nghe được những tiếng gọi xa khơi ? Có khi nào ta thấy trong lòng sự quyến rũ của mưa nguồn chớp bể ? Và chao ôi ! những tiếng gọi ấy, bầu trời ấy, tiếng vần vũ mưa nguồn chớp bể ấy, lại ở ngay trong Nhà Cha, trong Hồn Cha, và cũng là trong chính Lòng Ta, mà ta không biết...

Giuse Đặng Chí San op

+++++++++++++++


Cuộc trở về an toàn 
      Thưa quý vị, 

      Nếu từ “hoang đàng” có nghĩa là phung phí thái quá, thì chúng ta có thể gọi cả hai cha con trong dụ ngôn hôm nay là hoang đàng, tuy mỗi người một kiểu. Người cha về tình thương và người con về tiền bạc vật chất. Theo thói quen chúng ta gọi dụ ngôn là người con hoang đàng. Nhưng nhiều nhà mô phạm cũng gọi người cha là hoang đàng nữa. Ông đã phung phí tình cảm trên hai đứa con vô độ, không có giới hạn nào. Người cha thế gian dù dễ dãi đến đâu cũng phải có chút hạn chế cho những đứa con của mình. Đàng này trước các lỗi lầm của hai con ông chỉ biết trông chờ, vui mừng và nài nỉ. Nhiều tác giả đạo đức đặt lại tiêu đề cho dụ ngôn là : “Người cha và hai đứa con”. Phụng vụ cho chúng ta nghe lại nhiều lần trong năm dụ ngôn này, đến nỗi chúng ta có thể kể lại gần như thuộc lòng. Ngày thứ bảy tuần ba vừa rồi (13/3/04) cũng là bài Phúc Âm này trong thánh lễ sáng.

      Chúa Giêsu kể dụ ngôn cho các kinh sư và nhóm biệt phái nghe. Lý do vì họ kêu trách Chúa năng lui tới với những người tội lỗi, lại còn chè chén với chúng. Ngay câu mở đầu dụ ngôn đã mô tả hành động của người con thứ : “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng”. Mà cứ theo luật lệ lúc ấy là 1/3. Nếu gia đình giàu có thì quả là một gia tài khá lớn, thu tích trong nhiều năm. Anh đổi thành tiền mặt để đi ăn chơi trác táng. Tệ hơn nữa, anh kể người cha như đã qua đời, bởi khi sắp chết người ta mới chia gia tài, bao lâu còn sống chẳng ai làm như thế, kẻo phí phạm tài sản; cho nên đa phần cha mẹ trần gian không thể noi gương ông bố này mà nuôi dạy con cái. Chúng quá hỗn xược và tệ bạc, nhưng chủ đích của dụ ngôn không phải về vấn đề nuôi dạy con thơ, mà là tương giao giữa Thiên Chúa nhân lành và loài người phản nghịch, hư hỏng. Chúng ta đã rõ phần còn lại của câu chuyện.

      Điều làm tôi thích thú là diễn biến của nó với các động từ: Thu quén, ra đi, sống phóng đãng, phung phí tiền bạc, làm thuê, chăn heo, khao khát đồ heo ăn, tỉnh ngộ, hồi tưởng, đứng dậy, trở về… chúng mô tả hành động mau chóng và đi thẳng đến mục tiêu câu chuyện. Cho dù là khởi sự hay kết thúc diễn biến gọn gàng và chính xác. Khi người con thứ nhận ra lỗi lầm và hoàn cảnh vô vọng, hắn nắm ngay cơ hội để trở về. Mùa Chay là mùa Giáo Hội thúc giục tín hữu noi gương người thanh niên hoang đàng, trở về với Thiên Chúa, là Cha mình và với anh em. Một khi đã giác ngộ về tội lỗi, biết rằng cuộc đời mình là trống rỗng, không sinh hoa kết trái, không ích lợi gì cho ai, ngay cả linh hồn mình, bê tha trong các tính mê, nết xấu, chúng ta khao khát trở về với Thiên Chúa và nắm lấy cơ hội ăn năn thống hối. Chúng ta được Giáo Hội mời gọi làm quyết định mau chóng, không chần chừ, không để lỡ cơ hội và không lo sợ sẽ bị Thiên Chúa từ chối. Dụ ngôn khơi dậy trong lòng mỗi người niềm tin tưởng vào lòng Chúa nhân lành, sẽ tiếp đón mình nhân từ và hiền hậu : Tôi biết tôi sẽ được cha tôi tha thứ. Chúng ta có thể nói được như thế nhờ dụ ngôn Chúa Giêsu kể. Người ta có thể đặt tên cho dụ ngôn là : “Cuộc trở về an toàn”, theo nội dung câu chuyện.

      Thánh vịnh đáp ca còn gợi lên trong linh hồn mỗi người điều ngọt ngào hơn : “Hãy nếm thử và hãy nhìn xem Chúa tốt lành biết mấy”. Trở về với Thiên Chúa, chúng ta sẽ kinh nghiệm thánh vịnh này: “Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở, không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi. Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn”. Đúng thật, Thiên Chúa là Đấng phung phí lòng xót thương trên các tội nhân, người ta gọi Ngài là người cha hoang đàng cũng có lý do. Có lẽ người con thứ đã biết được tính nết của cha mình, cho nên không sợ sệt mà trở về và cũng không đòi hỏi được đối xử ngoại lệ.

      Những thính giả chân thật khi nghe dụ ngôn này đều cảm thấy lòng tràn đầy tin tưởng. Đôi khi trong quá  khứ chúng ta đã nhiều lần chần chừ vì có  nhiều tội lỗi, chúng ta có thể nghi ngờ về tính ngay thẳng của động lực trở về ; nhưng mỗi lần nghe dụ ngôn, lại cảm thấy can đảm hơn. Động lực của người con thứ đâu có cao thượng gì ! Cái bụng lép xẹp, đói khát, ước ao đồ heo ăn và mường tượng những người làm công ở nhà cha ăn uống ê hề : “Biết bao người làm công cho cha tôi được cơm dư gạo thừa mà tôi đây lại chết đói”. Cho nên chẳng cần cân nhắc động lực trở về với Thiên Chúa. Đơn giản dụ ngôn chỉ thúc bách chúng ta đứng dậy trở về nhà cha. Thiên Chúa đứng đón đợi từ đàng xa, sẵn sàng tha thứ và ôm hôn thắm thiết. Thực ra trên bình diện siêu nhiên, ngoài bản năng tự nhiên, thì lòng muốn trở về đã là một ân huệ như không. Dụ ngôn cũng đồng ý như thế.

      Sự  rộng rãi của người cha đối với những kẻ làm công đã thúc đẩy đứa con xem lại tình trạng khốn đốn của mình, mà đứng dậy trở về với cha. Tôi hết sức nghi ngờ trong sinh hoạt hàng ngày ở Palestine có thấy một ông chủ đối đãi hậu hĩnh với các người làm công như thế không ? Thời nay cũng vậy thôi. Cơm dư gạo thừa chẳng xảy ra bao giờ trong các xí nghiệp, nông trường, bởi lợi nhuận là trên hết. Dụ ngôn khuyến khích chúng ta mau mắn trở về nhà Thiên Chúa. Khi người cha gặp con, bầu khí tha thứ và yêu thương làm cho việc xưng thú lỗi lầm được dễ dàng hơn. Cảnh ngộ này không thiếu trong sinh hoạt thường nhật. Tôi nghĩ đến câu chuyện gia đình. Khi các bạn lỡ tay làm vỡ chén, tách quý hiếm của ông bà nội, các bạn muốn xin lỗi thì được ngay lời an ủi của bà : “Không sao ! con quên nó đi, ông bà có quà cho con ở đàng kia, con chạy đi lấy mà ăn”.

      Câu chuyện có thể kết thúc ở đây, nếu không có mặt của người con trưởng. Bản văn vừa đến câu : “Và người ta bắt đầu ăn mừng.” Thì anh ta bắt đầu hiện diện làm cho bầu khí thay đổi, đang vui trở nên buồn. Chúa Giêsu nói về thái độ của các kinh sư và Pharisêu đối với các tội nhân, tổng quát, đạo Do Thái với dân ngoại. Họ nghiệt ngã quá đáng. Trước mặt họ Chúa Giêsu dễ dãi với các người buông thả, không tuân giữ lề luật và các tập tục của cha ông. Ngài còn tỏ lòng ưu ái, thậm chí đồng bàn với họ. Một điều chướng tai gai mắt, không tín đồ Do Thái nhiệt thành nào muốn làm. Lời rao giảng của Chúa mở toang cánh cửa hối cải cho mọi người. Cho nên Pharisêu và các Ký lục không thể chịu đựng được Chúa Giêsu, coi Ngài như rối đạo, kẻ thù của thế lực đền thờ. Họ cực lực phản đối cách sống đạo của Ngài. Thiên Chúa của Môsê không thể chấp nhận một tên vi phạm lề luật như thế.

      Người con cả đứng ngoài cổng. Anh vừa ở cánh đồng trở về, anh là một người lao động tốt, cần cù và có trách nhiệm. Bất cứ gia đình nào cũng hãnh diện về một thành viên như thế. Khác với người em út, anh học thành thạo nếp sống gia đình, cha mẹ chỉ dạy : Làm việc siêng năng, ăn tiêu chắt bóp, không rượu chè trác táng, sống đúng với ước mong của mọi người. Nhưng điều anh không học được là lòng rộng rãi, bao dung, sẵn sàng tha thứ cho đứa em lầm lỗi của người cha. Anh gọi một gia nhân hỏi xem trong nhà có chuyện gì. Khi đã biết được câu chuyện, anh nhất định không vào nhà.

      Tuy nhiên, người cha chẳng nổi giận hay thất vọng về  anh, ông lại ra khỏi nhà lần nữa và năn nỉ người con cả. Lại lần nữa ông tìm kiếm người con đi hoang. Anh tuy ngoan ngoãn nhưng chẳng hiểu hết lòng ông. Anh cũng là kẻ hoang đàng theo ý nghĩa gia phong đoàn kết. Điều mà cha mẹ nào cũng mong muốn cho gia đình mình dù đã tan nát. Như thế Chúa Giêsu không hẳn đả kích người Do Thái, nhưng chỉ nói lên lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, mà hiện thân là Ngài. Hạnh phúc vững bền của chúng ta là lòng Chúa xót thương. Cũng như tình yêu của người cha đảm bảo an toàn cho hai đứa con dù ở hoàn cảnh nào ! Người con cả muốn rời xa gia đình khi nghe người em trở về và được người cha tiếp đón ân cần.

      Thực ra, trước mắt bạn bè và hàng xóm láng giềng, anh rất xấu hổ, thậm chí tủi nhục vì hành động “điên rồ” của người cha. Phúc Âm cũng nói rõ  tâm tình đó: “Cha coi, đã bao nhiều năm trời con hầu hạ cha và chẳng khi nào trái lệnh cha, thế mà chưa bao giờ cha cho con lấy một con dê nhỏ để ăn mừng với bạn bè…”. Ở khúc này của câu chuyện, chúng ta có thể đặt tiêu đề cho dụ ngôn là : “Ông bố điên khùng, chẳng chịu ở nhà”. Nghe ngộ nghĩnh nhưng đúng với tâm lý người cha.

      Trên con đường thiêng liêng mùa Chay, cả hai đứa con trong dụ ngôn đều có mặt trong mỗi người chúng ta. Rất nhiều lần chúng ta nghe theo cơn cám dỗ của thế gian và xác thịt, thu quén tiền bạc ra đi phương xa ăn chơi vui vẻ, phóng đãng. Khi gặp gian khổ chúng ta hối hận quay về xin Chúa thứ lỗi và đã gặp được lòng nhân ái của Ngài. Nhưng cũng rất nhiều lần chúng ta đóng vai người con cả, tưởng mình đạo đức hơn người, để rồi tẩy chay các tội nhân khác, coi họ không là anh em với mình và cắt đứt quan hệ, dù là kinh doanh, làm ăn, lợi lộc. Chúng ta đóng góp xây dựng nhà xứ, nhà thờ, trường học, bệnh viện, giữ các lề luật tôn giáo cặn kẽ, không hề bỏ lễ chúa nhật, có mặt trong các hội từ thiện bác ái… nhưng không chấp nhận ông A say rượu, bà B tham lam, ngồi chung ghế với mình trong thánh đường, hay chị C ly dị chồng vào đoàn thể, vào hội hè…. À thì ra, dụ ngôn không ám chỉ ai hết, mà chính bản thân mỗi tín hữu, trong đó có tôi là chính. Hiểu cho người khác là oan uổng và vu khống, chúng ta phải đấm ngực ăn năn : Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Chúng ta phải cảnh giác chính mình, kẻo lây nhiễm thái độ của một trong hai người con, thậm chí cả hai.

      Tôi chẳng ưa thích chút nào về người con cả với  ý thức trách nhiệm cao, chăm chỉ làm việc, trung thành với gia đình nhưng lại chẳng học được lòng nhân hậu của cha. Thực ra thì đó không phải là quan hệ yêu mến của đứa con với cha mẹ. Hãy nghe anh hậm hực : “Cha coi đã ngần ấy năm con hầu hạ cha…” đó chỉ là tự ái, kể công mà không phải là lòng yêu mến. Cho nên cả hai người con đều cần tỉnh ngộ. Hết mọi tín hữu cần xét mình trong mùa Chay thánh thiện này. Đó là chủ đích của bài Tin Mừng hôm nay. Đừng ai nghĩ mình không cần thống hối. Tất cả chúng ta đều là tội nhân.

      Hãy lợi dụng ý nghĩa của dụ ngôn, ơn Chúa luôn sẵn sàng cho những ai thành tâm thiện chí. Dụ ngôn thúc giục chúng ta coi Thiên Chúa như người cha nhân  ái, thậm chí phung phí tình yêu trên các tội nhân. Ngài luôn mong đợi chúng ta trở lại. Người anh lớn từ chối em là hình bóng chúng ta không chấp nhận anh chị em đồng đạo ăn năn sám hối. Chúng ta hãy vui mừng vì những cuộc trở lại như thế trong mùa Chay này. Hơn nữa, phải tích cực dẫn dắt họ quay về với Thiên Chúa qua các bí tích. Chúng ta sẽ nâng đỡ những thanh thiếu niên sa cơ lỡ bước rơi vào các tệ nạn xã hội như xì ke, ma tuý, đĩ điếm, trộm cắp, lang thang, vô gia cư… họ đang vật lộn với hoàn cảnh và bản thân để có được nếp sống an lành. Chẳng ai muốn mình hư hỏng, nhưng xã hội đầy dẫy những con người như thế. Cho nên chúng ta có nhiệm vụ phổ biến ý nghĩa của Tin Mừng hôm nay cho hết mọi cảnh ngộ mình gặp. Lôi kéo họ trở về với Thiên Chúa yêu thương.

      Chúng ta nên nhớ Thiên Chúa đã hoà giải với thế  giới qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại vinh quang của Chúa Giêsu, chứ không qua sấm sét, đe doạ và án phạt. Chúa Giêsu đã đền bù thoả đáng phép công thẳng của Ngài bằng cây thập tự. Ngài công chính hoá toàn thể nhân loại một cách nhưng không. Cho nên chúng ta không thể kết án ai, nhất là những linh hồn yếu đuối đã lìa bỏ Giáo Hội mà ra đi, ăn ở trác táng, có thể họ còn chống lại Hội Thánh vì lý do hay thù hận nào khác. Trong ý nghĩ nào đó, chúng ta có thể thông cảm với người con cả. Người cha đã hành động quá tốt lành, ngoại lệ thế gian, cử chỉ của ông không ai đoán trước đựơc, làm lung lay mọi nền tảng giao tiếp xã hội. Ở đời thường chúng ta chẳng bao giờ gặp một người cha nào như thế, làm sao hiểu được người cha trong dụ ngôn hôm nay ? Ông sẽ làm gì kế tiếp ? Không ai biết được, nhưng có một điều chắc chắn là tấm lòng ông bao la. Cho nên cả hai người con phải đặt hết tin tưởng vào ông. Lòng tha thứ của ông luôn sẵn sàng, dù lỗi lầm của họ nặng nề đến đâu đi nữa ! Ông chẳng rầy la họ, nhưng vui mừng đón tiếp, ôm cổ và hôn lấy hôn để. Trước mắt người đời ông có thể là kẻ “điên khùng”. Nhưng đấy lại là hình ảnh của Thiên Chúa chúng ta trong mùa Chay này -

Fr. Jude Siciliano OP

+++++++++++++++++++++++++++++++++

 

NỤ  HÔN NỒNG CHÁY

      Nụ  hôn là một biểu hiện tình yêu. Nhưng thực tế  có những nụ hôn chiếu lệ, đầy mầu mè  hình thức xã giao. Nhưng cũng có nụ hôn diễn tả tình yêu nồng nàn, chân thực. Chẳng hạn trong dụ ngôn người cha nhân hậu, người con hoang đàng đã nhận được nụ hôn cháy môi, vì người cha “ôm cổ anh ta, và hôn lấy hôn để” (Lc 15:20) bù lại bao tháng ngày xa cách.

TÌNH YÊU KỲ DIỆU.

      Dụ  ngôn đã phác họa biến cố xảy ra trong một gia đình phú nông có nhiều người làm công (Lc 15:17). Bắt đầu bằng một sự việc khác thương. Người con thứ nổi hứng, muốn sống biệt lập. Sau bao ngày đắn đo suy nghĩ, anh mạnh dạn đến thưa với cha : “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng.” (Lc 15:12) Có lẽ anh sẽ được hưởng một phần ba tài sản (Đnl 21:17) Bình thường con cái chỉ hưởng được gia tài khi người cha khuất núi hay muốn chia gia tài sớm và không muốn điều hành sản nghiệp nữa. Đằng này, người con thứ dám nghênh ngang đòi chia gia tài, bất chấp mọi quyền bính của người cha và anh cả.

      Thật là táo bạo ! Ngay đầu câu truyện đã thấy tất cả nét nhân hậu của người cha khả ái, chứ  không phải bất lực hay nhu nhược. Đúng hơn, hiểu rõ  tâm lý và khuynh hướng thích tự do của  tuổi trẻ, người cha đã chiều theo ý muốn của con và muốn tránh những hậu họa cho gia đình.

      Người con thứ thả hồn mơ mộng về một tương lai huy hoàng. Anh tin tưởng tuyệt đối đồng tiền có khả năng tạo hạnh phúc. “Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng phung phí tài sản của mình.” (Lc 15:13) Những ngày tháng đầu diễn ra đúng như anh mơ tưởng. Anh đã rời xa mái ấm. Xa cả về không gian lẫn tình cảm.Chỉ gần những cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm.

      Nhưng đời sẽ dậy cho anh một bài học. Hoàn cảnh bên ngoài và điều kiện bên trong không còn dễ dàng. “Khi anh ta đã tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng.” (Lc 15:14-15) Anh đã xuống tới nấc thang cuối cùng trong xã hội. Trong cảnh cùng cực, tất cả những thực tại bình thường trước kia lại trở thành giấc mơ đối với anh. Anh bắt đầu vẽ nên cảnh gia đình đầm ấm và mong gặp lại cha già để hưởng tất cả quyền lợi ngày xưa. Nhưng đó chỉ là giấc mơ thôi. Thực tế anh mong được chấp nhận trở lại gia đình như một người làm công (Lc 15:19). Thế là anh quyết định trở về, một quyết định không vì hối hận, nhưng vì nhu cầu sống còn.

      Màn chót trong bi kịch hứa hẹn nhiều pha gây cấn, bất ngờ. Tất cả như một giấc mơ khi người con thứ trở về. Đó không phải là một cuộc trở về thành thật. Dù sao người cha cũng chấp nhận. Một lần nữa lại thấy tất cả nét chu đáo và đầy cảm thông của người cha nhân hậu. Ong chỉ mong được lại người con với bất cứ giá nào. Anh không thể ngờ tình cha yêu thương vẫn nguyên vẹn. Có lẽ khi còn ở nhà chưa bao giờ anh được cha vồn vã “ôm cổ và hôn lấy hôn để” (Lc 15: 20) như thế. Đang còn hoa mắt vì tấm lòng trời bể đó, anh đã phải bàng hoàng trước thái độ cao thượng của người cha. Anh được trao “nhẫn là biểu tượng của quyền bính (St 41:42; Et 3:10;8:2); dép chỉ dành cho người tự do.” (KTTƯ 1995:334) Anh vẫn là con, chứ không phải là người làm công hay tên nô lệ. Sau đó, một bữa tiệc thịnh soạn thiết đãi mọi người đến chia sẻ niềm vui, vì như ông nói “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:24, 32)

      Phải có một tấm lòng đại lượng vô cùng mới có  thể nhìn thấy giá trị nơi những gì đã mất. Không có con mắt bao dung đó, người anh cả không thể chấp nhận người em vào lại gia đình. Trước mắt anh, cha đã làm một việc thật phi lý, bất công (Lc 15:29-30). Không ai có thể hiểu nổi thái độ kỳ cục của cha già ! Có lẽ ông hết sáng suốt, không nhận định nổi thực tế nữa nên mới có thái độ như vậy. Người đáng thưởng lại không thưởng. Kẻ đáng phạt lại được nuông chiều. Nhưng “ý thức về bổn phận quá đã che mờ mắt anh. Anh không thể hiểu nổi sự tha thứ và tấm lòng quảng đại của cha.” (Fahey 1994: 268) Đã có một khoảng cách lớn giữa cha và anh. Khoảng cách này kéo theo khoảng cách không bao giờ lấp nổi giữa anh và em. Người cha không những phục hồi quyền làm con, nhưng còn muốn lấy lại cả địa vị làm em cho người con thứ. Những lý lẽ biện hộ cho con thứ hoàn toàn không thể chấp nhận được trước một đầu óc duy lý như người con cả. Con tim có những lý lẽ riêng của nó !

      Giả  sử khi trở vê người em thứ ngay anh cả  đứng đầu ngõ, cái gì sẽ xảy ra ? chắc chắn người em sẽ đón nhận một thái độ khinh bỉ, kinh tởm, hờ hững. Anh cả sẽ đối chất bằng những lời lẽ nặng nề, lôi tất cả lề luật, bổn phận để hạch sách. Kết quả có thể là một trận phun nước miếng hay ẩu đả với em. Thái độ như thế liệu có thể kéo đươc người em trở về không ? May mắn cho người em đã gặp được bố lúc về nhà ! Tình yêu luôn đón mời. Chỉ tình yêu mới làm con người hồi tỉnh và phục hồi được những giá trị đã mất. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta quá cứng rắn. Người vợ hay chồng thường nêu ra những lý lẽ để bắt chẹt người bạn của mình. Nhưng chỉ tình yêu mới có sức thuyết phục. Tình yêu mới nối liền con người, chứ không phải những khô cứng của lề luật.

      So sánh hai cuộc đời của hai con người, đứng về  mặt luật pháp và lý trí, anh cả đáng ca tụng vì đã trung thành với bố suốt bao năm tháng. Người em đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng vì thái độ ngang tàng bừa bãi của mình. Nhưng thử hỏi, ai đã rời xa cha già, xa mái ấm gia đình hơn ai ? Anh cả hay em thứ ? Thực tế dù sống ngay bên cạnh cha, tâm trí con cả lúc nào cũng xoay quanh cái tôi của mình : “Đã bao năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.” (Lc 15:29) Cái tôi của anh quá lớn đến nỗi đè bẹp luôn người em đang tủi hờn, cay đắng. Anh lên giọng để cha già thấy tất cả cái phi lý của cách cha đối xử phân biệt : “Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thi cha lại giết bê béo ăn mừng !” (Lc 15:30) Thực tế cả hai người con đều cần phải trở về với cha. Nhưng cũng như người Pharisê, người con cả khó trở về hơn, vì anh tự mãn quá mức vì những công việc và lề luật trong gia đình.

      Người con thứ đã trở về vì lý do rất thấp kém. Nhưng không sao ! Khi đụng tới sự thật về lòng vô cùng nhân hậu của cha, người con mới thấy được lý do đích thực phải trở lại. Nói khác người cha dùng chính sức mạnh tình yêu để trục xuất lý do thấp hèn khỏi người con thứ. Chính tình yêu đã phục sinh những giá trị đã mất mát nơi người con thứ. Phải chăng dụ ngôn hôm nay khuyến khích chúng ta noi gương người con thứ đi hoang hơn là bắt chước người anh cả ở lại nhà cha ? Thực ra, người cha đã làm người con cả giật mình khi nói hết sự thật : “Tất cả những gì của cha đều là của con.” (Lc 15:31) Phải trung thành tới mức nào mới có thể hưởng lời nói ngọt ngào đó ?! Nếu người con cả cảm nhận được tất cả sự thật về lòng thương trời bể đó, chắc chắn anh có thể trở về và đi vào con đường công chính đích thực, chứ không chỉ bên ngoài mà thôi.

CHIỀU KÍCH CON TIM.

      Chắc hẳn khi nghe dụ ngôn này, các người Pharisêu và  các kinh sư đều tím gan tím ruột vì Đức Giêsu đã phơi bày tất cả lòng dạ hẹp hòi, kệch cỡm, lì lợm của họ nơi người con cả. Còn những người thu thuế và các người tội lỗi xúc động vì cảm nghiệm được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa nơi người cha và sung sướng thấy hình ảnh mình nơi người con thứ tràn đầy hạnh phúc. Người cha trong dụ ngôn chỉ phản ánh phần nào hình ảnh Thiên Chúa. Từ lòng yêu thương vô bờ bến, Thiên Chúa đã có sáng kiến thật táo bạo khi “nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải với Người.” (2 Cr 5:18) “Ôii ! Ân tình Cha thật kỳ diệu. Ôi ! Ân phúc Cha thật khôn lường.” (Công Bố Tin Mừng Phục Sinh) Trái tim Thiên Chúa không ai dò thấu được (Tv 145:3).

      Phải có một con tim như Thiên Chúa mới có thể  tha thứ như Thiên Chúa. “Chính tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với tội nhân đã khiến Đức Giêsu không ngần ngại tiếp xúc thân mật với họ.” (Fahey 1994:268) Tình yêu Thiên Chúa nơi chúng ta có mạnh đủ để đẩy chúng ta đến với những người tội lỗi hôm nay không ? Vẫn còn có một khoảng cách giữa những người tưởng mình là thánh thiện với những người bị coi là tội lỗi và kém may mắn như những người nghiện hút, đồng tính luyến ái, ly dị, tù tội, nghèo khổ hay bị bỏ rơi. Sự xa cách bên ngoài đó tố cáo một sự xa cách bên trong giữa chúng ta và Thiên Chúa.

      Đã  đến lúc phải lắng nghe lời Thánh Phaolô : “Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa.” (2 Cr 5:20) Có bình an nội tâm, mới hòa giải với người. Có gắn bó với Thiên Chúa, mới có thể đến gần tha nhân. “Đời sống mới trong Đức Kitô, không những mang chiều kích cá nhân, nhưng còn đạt tới tầm vóc toàn thể vũ trụ (Cl 1:10). Đó là do sáng kiến Thiên Chúa, Đấng đã trả lại cho nhân loại tình bằng hữu trước kia với Người trong và qua Con Người.” (Fahey 1994: 266-267) Sáng kiến đó đã được thực hiện trong một điều kiện không thể tưởng tượng được. Quả thực, “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5:21) Chính nhờ chia sẻ và gần gũi đến độ đồng hóa với tội nhân, Đức Giêsu đã có thể thực hiện được công trình vĩ đại đó.

      Chỉ  khi nào cảm nghiệm được tình Cha sâu đậm và  bao la như những người tội lỗi và thu thuế, chúng ta mới có thể thay đổi bộ mặt trái  đất. Những dụ ngôn và các bài học trước đây chỉ đụng tới phần nào giây tơ lòng mỗi người. Nhưng càng đọc dụ ngôn người cha nhân hậu, càng không thể cầm được nước mắt vì Chúa Cha quá vĩ đại và bất ngờ khi phục hồi giá trị con người trong Con Một yêu dấu. Người ta không còn viện cớ gì để từ chối trở về với Chúa được nữa ! Giá trị con người vẫn còn nguyên đó dù cho thời gian có phủ lên bao lớp bụi mờ.

      Thế  nhưng, nhiều giá trị ngày nay đang bị chính con cái Giáo hội chối bỏ. Giá trị luân lý  bị đảo lộn từ phòng thí nghiệm đến ngoài cuộc sống. Điển hình, cuộc thăm dò mới  đây cho biết “giới trẻ Kitô hữu tại Anh không đồng ý với nhũng giáo huấn luân lý của các giáo hội và tin rằng tình dục ngoài hôn nhân có thể chấp nhận được. Có một khoảng cách nghiêm trọng giữa giáo huấn truyền thống của Giáo hội về những vấn đề luân lý và những niềm tin tưởng của thế hệ trẻ.” (CWNews 14/3/2001) Làm sao có thể thuyết phục con người trở lại với những giá trị nguyên thủy, nếu trước tiên chúng ta không trở về với nguyên ủy của mọi giá trị là chính Thiên Chúa ?

Như Hạ op

++++++++++++++++++++++
Tự  Do Như Một Định Mệnh

      Thường ai cũng thấy tựa đề trên hàm chứa một mâu thuẫn tự bản chất. Tự do và định mênh không thể nào dung hợp. Nhưng tại sao nhìn tự do như một định mệnh ?

      Có  nhiều mâu thuẫn vẫn tồn tại bên nhau như bóng với hình. Tự do tuyệt đôi không thể tìm được trong hoàn cảnh hiện tại. Nhưng con người vẫn luôn cảm thấy mình có tự do và vẫn mơ về tự do tuyệt đối đó. Nếu không có tự do, con người không còn trách nhiệm. Luân lý cũng biến mất. Tự do thực là một cám dỗ nguy hiểm, nhưng cũng là một cơ hội lớn để con người xác định căn tính và đánh dấu mức trưởng thành nhân cách. Đúng là một trò chơi đòi hỏi nhiều thông minh và can đảm.

TRÒ  CHƠI HAY TRỜI CHO

      Chúng ta không được hỏi ý kiến trước khi sinh ra. Do đó sự hiện hữu của mình mới đây những giới hạn. Tự do gần như một mộng tưởng. Sinh ra đời cũng như nhảy vào một cuộc chơi, giữa bao lựa chọn. Cuộc đời như một trò chơi. Tất cả các bàn cờ đã bày sẵn. Dĩ nhiên cuộc chơi rất nhiều và phức tạp. Nhiều người tưởng mình có thể đứng ngoài cuộc. Nhưng ngay cả nhũg người sống cô đơn nhất, cũng đang chơi một trò chơi lớn bằng cả cuộc đời mình. Người ta có quyền lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về lựa chọn đó. Lựa chọn nào cũng phải trả giá.

      Hãy xem người con thứ trong Tin Mững Luca 15:11-32 đã trả  giá thế nào. Sống với cha mãi, anh cũng chán ngán với những tập tục năng nề. Anh không thể sống thoải mái theo ước vọng tuổi trẻ. Anh mơ một khung trời tự do. Anh sẽ vùng vẫy thỏa tình. Không bị lệ thuộc bất cứ khuôn sáo nào. Hoàn toàn sống theo sở thích.

      Nhưng thử hỏi lúc đó anh có hoàn toàn tự do không ? Dĩ nhiên tiền bạc đã đem lại cho anh những trận cười thâu đêm suốt sáng. Anh tung mình vào cuộc chơi với những hạng người nào ? Những tương quan ngang dọc trong cuộc chơi đó chẳng lẽ không chi phối con người anh sao ? Nếu nhà cha anh là một sân chơi, thì nơi đàng điếm cũng là một sân chơi. Khác nhau ở chỗ, sân nào giúp anh phát triển tinh thần và thể xác, sân nào tạo ra những tai nạn nguy hiểm, đưa anh tới một định mệnh tàn khốc.

      Sân chơi nào cũng cần luật lệ. Luật lệ cũng chỉ  là một phương tiện đạt tới mục đích. Điều quan trọng là nhận định cho đúng bản chất, tác dụng và hiệu lực của luật lệ thôi. Không phải luật lệ nào cũng giết chết tự do. Chẳng hạn người nhạc sĩ sáng tác giữa một rừng luật. Luật âm nhạc không trói chặt tâm hồn nghệ sĩ của anh. Trái lại càng giúp anh khám phá muôn vàn kỳ diệu trong thế giới âm thanh.

      Cuộc  đời có nhiều sân chơi khác nhau. Mỗi sân chơi có  luật riêng. Thử tưởng tượng không luật lệ, sân chơi sẽ hỗn loạn và nhàm chán chừng nào. Anh đã lựa chọn một sân chơi thoát ngoài vòng kiêm tỏa của thân phụ. Anh muốn sống hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ. Anh không cần đến tình thương của ông nữa. Anh tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh đồng tiền. Đồng tiền có thể thay thế hay đúng hơn tạo nên tình yêu. Nói khác, anh mơ tưởng đến một thiên đàng hạ giới.

      Nhưng thực tế phũ phàng. Cuộc đời không buông tha anh. Trong cơn đói khát, anh thấy mình bị tước đoạt tất cả. Anh không còn phải là anh giữa bao cơn gào thét của bản năng căn bản nhất. Phẩm giá anh xuống thấp nhất, ngang với loài heo. Anh đang trả giá cho lựa chọn của anh. Hạnh phúc ngày xưa trở thành một giấc mơ hầu như không thể thực hiện. Anh mơ về thời vàng son khi còn sống êm ấm dưới mái gia đình. Nhớ ngày xưa còn bé thênh thang những bước chân chim. Lớn lên anh vui chơi với bạn bè. Bao nhiêu dự phóng tuổi trẻ đã được thực hiện. Anh không thiếu một trợ lực tinh thần và vật chất nào. Cha luôn ở bên cạnh. Anh vẫn có tự do mà anh không biết. Tự do không phải là một thứ cây mọc ở trên mây.

      Bước chân phiêu bạt chỉ dừng lại khi giấc mơ tuổi trẻ trở thành thực tế phũ phàng. Anh mất tất cả những trợ lực cần thiết cho cuộc sống. Anh muốn và thực sự quay đầu trở  về nhà cha. Bây giờ anh chẳng dám mơ một thứ tự do lãng mạn nữa. Địa vị làm con cao sang quá, anh không dám mơ tới. Cao lắm anh chỉ mong đóng vai gia nhân, vì làm gia nhân anh không lo chết đói.

      Nhưng thực tế khác xa với mộng tưởng. Nếu thực tế  chua chát của cuộc đời đã dạy anh những bài học  đích đáng, thì thực tế của tình cha bao dung đã  kéo anh về với bầu khí tự do của gia đình. Tình yêu không phải là một trò chơi, nhưng là một của Trời cho con người. Tự do không thể kiếm thấy ngoài tình yêu. Lý do không tình yêu, mọi sự xáo trộn. Hoàn cảnh ngặt nghèo khiến anh không thực hiện nổi giấc mơ nhỏ bé tầm thường nhất. Vì anh không thể kiếm thấy tình yêu nơi môi trường đàng điếm, một nơi chỉ sống dựa trên tiền bạc, thủ đoạn.

      Bởi thế như mọi thực tại trần gian khác, tự  do cũng có giới hạn. Đúng hơn, cũng như tình yêu, tự do phải được thực hiện trong một hoàn cảnh nhất định. Không thể có thứ tự do vô điều kiện. Không hội đủ điều kiện, không thể hưởng được không khí tự do. Tự do không thể có một chiều kích khác biệt với những thực tại chung quanh. Thực tế tự do cũng chỉ là một đặc tính của con người. Tự do không thể có chiều kích tuyệt đối trong một cõi tương đối như trần gian. Mặt trái của tự do là trách nhiệm. Nếu tự do có nghĩa muốn làm gì thì làm, chúng ta sẽ lâm vào ngõ bí của một định mệnh khắc nghiệt, không lối thoát. Chỉ có một lối thoát duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, Thánh Phaolô quả quyết : "Chính vì để chúng ta được tự do mà Chúa Kitô đã chết vì chúng ta" (Gl 5:1).

LỐI THOÁT KHỎI ĐỊNH MỆNH

      Con người dù mạnh tới đâu cũng phải dừng lại trước sức mạnh tử thần, vì họ chỉ  "giết được thân xác mà không giết được linh hồn" (Mt 10:28). Ngày xưa vua Gia Long tưởng quyền hành bao trùm cả cõi âm ty, nên dã lấy sọ Quang Trung bỏ vào nhà vệ sinh. Lối trả thù ti tiện đó càng làm mọi người phỉ nhổ, chứ không chứng tỏ chút uy quyền nào. Càng tìm cách biểu dương quyền lực, nhà vua càng trở thành bất lực. Thiên Chúa rất khác. Để trả oán cho những người đã không sống đúng với sứ mạng và ơn gọi của mình, Người "có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục" (Mt 10:28). Thật vô cùng khủng khiếp, quyền uy Thiên Chúa bao trùm cả đời này lẫn đời sau.

      Quyền sinh tử nằm trong tay Thượng đế. Thực tế ít ai ý thức được quyền bính vô cùng lớn lao đó. Thiên Chúa ẩn mình và vô cùng kiên nhẫn. Thiên Chúa quan phòng tất cả vạn vật trong thượng trí và tình thương. Chỉ khi nào gặp biến cố phi thường, con người mới biết run sợ trước Đấng Hóa Công. Người ít khi dùng quyền để đe dọa con người. Trái lại, thực tế Người dùng quyền bính để bảo vệ, xây dựng và cứu giúp hơn là phá đổ.

      Thiên Chúa quan tâm đến con người vì con người là một giá trị siêu việt, một kiệt tác do thượng trí và tình yêu Người dựng nên. Chính vì yêu thương, Thiên Chúa đã mạc khải tất cả cho con người nơi Người Con Chí Ai. Lời Mạc khải đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đến kêu gọi con người hợp tác trong việc loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân.

      Lời mời gọi đó hoàn toàn tự do. Khi chấp nhận lời mời gọi ấy, con người sẽ nghiệm thấy Thiên Chúa thực sự dễ thương. Người là Cha nhân  ái, luôn chăm sóc đến từng người. Chúa Giêsu nói rõ : "Hai con chim sẻ chỉ bán được một xu phải không ? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em ... Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ" (Mt 10:29-31) Nếu đối với mọi người, Chúa còn chăm lo đến thế, thì đối với ai được Chúa sai đi làm chứng và rao giảng Tin Mừng, Người sẽ đối xử thế nào ? Họ đã dám công bố lời Chúa bất chấp mọi gươm giáo, đã lấy thân cản lối bạo lực để ánh sáng Tin Mững chiếu soi khắp cõi, thì Đức Kitô cũng sẽ đem thân che chở họ trước vẻ uy nghiêm vô cùng của Thiên Chúa trong ngày phán xét.

      Nói khác, họ đã tìm được một lối thoát khỏi  định mệnh khắc nghiệt, vì Đức Kitô đã hứa : "Phàm ai tuyên bố nhận Thày trước mặt thiên hạ, thì Thày cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thày, Đấng ngự trên trời" (Mt 10:32). Được Đức Kitô bao che trước nhan Chúa Cha, tức được một bảo đảm, một chỗ dựa vững chắc nhất. Dù quá khứ có nặng nề tới mấy, nghe lời bảo đảm ấy, tự nhiên ta thấy an tâm. Dù Cha có là Đấng Chí Công, chúng ta cũng không lo sợ. Dưới ánh mắt Người,không có gì đẹp bằng dung nhan Con Chí Ai. Nhìn thấy Người Con duy nhất đó, Chúa Cha sẽ quên hết mọi ưu phiền do tội lỗi loài người gây nên.

      Có  người cha nào dễ thương hơn Thiên Chúa ? Người chăm lo đến mỗi người chúng ta, đến nỗi "ngay sợi tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi" (Mt 10:30). Người vạch ra cho ta một lối thoát khỏi định mệnh. Đúng là dáng điệu của một người cha. Chúa khuyến khich chúng ta can đảm ngẩng đầu lên, cương quyết không chịu khuất phục trước cường quyền. Bạo lực ép buộc con người làm những chuyện tồi bại, hèn nhát, phản lương tâm, luân lý. Thực tế họ chỉ giết được thân xác, hoàn toàn bó tay trước sức mạnh tinh thần. Nhưng con người đâu phải chỉ là thân xác. Bạo lực không thể khống chế sức mạnh tinh thần.

      Cha chúng ta chỉ cho chúng ta một lối thoát. Lối thoát đó chính là can trường rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày. Khi thoát khỏi nanh vuốt tử thần, vào sống trong nhà Chúa, chúng ta sẽ được thừa hưởng tất cả bầu khí tự do và hân hoan của con cái Chúa, vì "Nước Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần" (Rm 14:17). Đấng sẽ mạc khải tất cả sự thật (xc Ga 16:13) và "sự thật sẽ giải thoát anh em" (Ga 8:32).

      Bởi  đó tự do là một hồng ân. Nếu hiểu định mệnh là chương trình Thiên Chuá quan phòng mọi việc trong vũ trụ, thì tự do cũng không thể nằm ngoài định mệnh đó. Trong chương trình đó, Thiên Chúa đã muốn bản chất con người là tự do. Không một giá trị nhân bản đích thực nào có thể được tạo lập trong một môi trường mất tự do. Nhưng tự do chỉ có thể đem lại hạnh phúc thực sự khi được xây dựng trên nền tảng chân lý. Đó là định luật thiên nhiên. Chống lại định luật thiên nhiên là đi ngược với thánh ý Thiên Chúa. Hi vọng những người chủ trương tôn sùng tự do lương tâm tuyệt đối khám phá được nét hòa hợp tuyệt vời giữa tự do và chân lý để bảo đảm cho hạnh phúc hiện tại và cuối cùng của nhân loại.

Như Hạ OP

+++++++++++++++++++++++++
Tâm Sự Bố Già

Với người con thứ

      Con thân mến, Vậy là con đã trở về, niềm mong đợi của cha đã thành. Con biết đấy, cha mong đợi ngày này từ bao năm nay. Kể từ ngày con cất bước ra đi, cha vẫn chờ con về. Chiều chiều, cha vẫn tựa cửa, ngong ngóng tìm bóng người thân quen và chiều nay cha đã gặp được bóng dáng đó.

      Khi con đòi chia gia tài, thực sự cha không muốn. Giữa cha và con đâu có gì là xung khắc. Nhưng chỉ vì đam mê của tuổi trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời, con muốn vượt thoát, muốn sống ngoài vòng kềm tỏa; vì khao khát tự do, háo hức muốn có kinh nghiệm, muốn biết cái mới lạ, và do chưa có bản lĩnh, do tính hung hăng thích phiêu lưu mạo hiểm.

      Con còn nhớ chứ, cha đã ngăn cản con hết lời, để con bỏ ý tưởng rồ dại ấy đi, để con hiểu rằng tình thương yêu của cha đối với con còn lớn hơn, còn quý báu hơn mọi thứ của cải, mọi thứ kinh nghiệm.

      Thế  nhưng, trước thái độ khăng khăng quyết liệt của con, vì con cứ nài nỉ mãi, và vì tôn trọng quyền tự do của con – điều mà xưa nay cha vẫn thực hiện – cha đã nhượng bộ. Cha đã làm một điều mà lòng không vui chút nào. Cha đã làm một điều mà cha thấy trước rằng sẽ không tốt cho con. Biết làm sao được ! Con ao ước được tự do mà cha lại tôn trọng tự do !

      Và  thế là con ra đi.

      Cha biết rằng với số tiền lớn trong tay, với tính khí  ngang tàng, muốn bay nhảy, muốn tự do, muốn xả  láng, con khó lòng tạo nên một cơ nghiệp. Con sẽ  tiêu xài hết số tiền ấy và chẳng mấy chốc trở thành trắng tay. Nói quá, cha mong cho điều ấy xảy ra, để con hiểu rằng thế nào là tự do. Người ta phải kìm hãm những đam mê của mình, và độc lập không hẳn phải là tự mình quyết định mọi việc.

      Khỏi cần nói cha cũng biết con đã tiêu tán số tiền  ấy vào những đâu. Con đã qua những đêm thức trắng, rượu bia đầy bàn ; con đã du lịch khắp đó đây, đã ở những nơi sang trọng nhất. con đã trải qua những phút hả hê, bạn bè vây quanh, ai cũng nồng nhiệt đón rước. Và lúc đó con ôm ảo tưởng rằng tiền bạc là tất cả. Có tiền là mua được bạn bè, có tiền là tạo nên được niềm vui, và có tiền là mình đã thành đạt. Con đâu nghĩ rằng, ngay cả khi đầy tiền bạc, con người cũng đâu tạo được thành đạt, vì họ đã đánh mất nguồn gốc của mình, đó là tình thương.

      Và  đến một ngày, Con đã trải qua những thời gian cùng cực, những ngày tủi nhục nhất, con đã chẳng còn chút phẩm giá nào của một con người, đã phải sống trong khổ sở, nhục nhã. Và may cho con, chính những lúc đó, con còn nhớ được rằng ở nhà cha, những người đầy tớ còn sung sướng hơn. Khi còn ở bên cha, con không hiểu được thế nào là mái nhà, thế nào là tình thương. Khi ở cạnh cha, con tưởng mình không có gì cả, mặc dù con đang có điều lớn nhất. Nhưng khi bị rơi xuống tận cùng vực thẳm, con mới hiểu thấm thía thế nào là mái nhà, thế nào là tình cha. May thay, trong con vẫn còn một chút ý thức !

      Hôm nay con trở về. Con về vì chẳng có chỗ  nào đón nhận con, chẳng còn chỗ nào nuôi con nữa, chẳng còn người bạn nào tiếp đón con. Không sao cả, con trở về là cha mừng. Cha đã đợi chờ  quá lâu.

      Con thấy đó, cha không cần lời thú lỗi của con, cha đã tha thứ cho con rồi. Con hãy nhận lại tư  cách là con. Hãy mặc lấy bộ quần áo mới, sạch sẽ, hãy đi dép vào để thấy rằng mình là người tự do, hãy xỏ nhẫn vào tay để biết rằng cha vẫn coi con là con của cha như ngày nào.

      Cha mong con không giữ mặc cảm tội lỗi, con sẽ quên hết quá khứ : Những ngày ấy chỉ có  giá trị là cho con hiểu rằng tình thương của cha dành cho con lớn lao biết chừng nào, và sống trong tình thương đó, con mới thực sự là người tự  do. Cha mong con cảm thấy hạnh phúc vì được sống trong một mái nhà, có cha ở bên, và tình thương cha dành cho con không hề suy giảm.

Với người anh cả

      Tại sao con lại thắc mắc, thậm chí giận dữ, khi cha mừng em con trở về ?

      Con nào chẳng là con. Cả hai anh em con từ lòng cha sinh ra. Cả hai anh em con đều được tình thương cha ấp ủ, nuôi dưỡng.

      Con ạ, Hãy tập sống yêu thương và độ lượng, nhất là đối với đứa em của con. Lẽ nào con yêu mến cha mà lại có thể không yêu thương em con được ? Nếu con không yêu thương em con, làm sao con có thể yêu mến cha được ? Em con có lầm lỗi thật, nhưng nó cần được yêu thương để thay đổi cuộc đời, nó cần được yêu thương vì nó là con cha, và vì nó dám chọn sống. Cha mong con cũng yêu thương nó, vì nó là em con.

      Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại tấm lòng. Cha mừng, cha mở tiệc lớn ăn mừng, vì em con đã khám phá ra ý nghĩa cuộc đời, đã nhận ra rằng tình thương vượt lên trên tất cả, tình thương xóa bỏ mọi lỗi lầm.

      Chẳng lẽ con ganh tị với em con ? Bấy lâu nay con sống với cha, sử dụng mọi của cải và nhất là có cha ở bên cạnh mà con vẫn cảm thấy mình bị thua thiệt, bị xua đuổi.

      Sao con lại tức giận không vào nhà ? Hóa ra từ lâu nay con đã xa rời vòng tay của cha, dù trong thực tế  con chưa bước chân ra khỏi nhà. Lẽ ra mọi niềm vui nỗi buồn của cha cũng là của con. Con không vui khi thấy cha vui sao ? Con chỉ muốn tìm niềm vui theo cái nhìn của con, theo dự tính, theo góc độ của con, mà chẳng quan tâm gì đến cha. Như thế là chính con tự mình thoát khỏi vòng tay của cha, chính con từ chối tình thương cha dành cho con, kể như con tự bước ra khỏi căn nhà êm ấm này rồi !

      Và  rồi, Chẳng lẽ bấy lâu nay con làm lụng vất vả  không phải vì cha mà là vì bản thân con ? Con chỉ muốn tìm lợi ích cho riêng mình. Những việc tốt con làm, phục vụ cha, làm lụng cũng chỉ là thứ lo tìm công đức cho mình. Thay vì vụ lợi như thế, lẽ ra con chỉ cần hiểu rằng tình thương mới có giá trị. Làm lụng vất vả mà không có tình thương thì chẳng đem lại lợi ích nào ! Không lẽ con sống với cha chỉ để mong được phần gia tài, được ăn sung mặc sướng, tìm lợi ích riêng cho mình? Phải có gì hơn thế nữa chứ !

      Con ạ, Bỏ tính ích kỷ hẹp hòi đi, đừng ghen tức với em con làm gì. Ghen tương ích kỷ làm cho đời con héo khô, làm cho lý trí con cùn nhụt. Việc gì  mà con lại phải xem người khác đối xử với cha như thế nào, rồi con theo đấy mà xử sự. Thế thì sao gọi là thật lòng với cha được !

      Hãy bước vào nhà chung vui với cha, với em con. Cha có  thể nói với con rằng, từ nay, em con không những là một đứa con ngoan, mà còn rất ngoan nữa. Quên quá khứ đi con, nhìn về tương lai. Hãy sống tin tưởng, bao dung và độ lượng. 
 

      Chẳng lẽ Ta lại muốn cho ác nhân phải chết,

      chứ  không muốn nó bỏ đường tà  mà được sống sao ?(Ed 18,23)  

      Ta lấy mạng sống Ta mà thề

      Ta đâu có muốn cho kẻ  dữ phải diệt vong,

      nhưng là muốn nó bỏ đường tà để được sống. (Ed 33,11)  

      Chúa là Đấng từ bi nhân hậu

      Người chậm giận và giàu tình thương.

      Người không cứ tội ta mà  xét xử,

      không trả báo ta xứng với lỗi lầm. (Tv 102, 8.10)  

      Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ,

      thích được các ngươi nhận biết,

      hơn là được của lễ toàn thiêu. (Hs 6,6)

G. Nguyễn Cao Luật op

++++++++++++++++++++++++


 

 

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay13
mod_vvisit_counterTất cả418404

Giờ lễ

Website Công Giáo

Tìm kiếm

.: Trang tin của Tổng Giáo Phận Huế - Phụ trách: LM. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang :.
Địa chỉ: 69 Phan Đình Phùng - Huế - Việt Nam - Tel: 84.54.3831967

Email: tonggiaophanhue@gmail.com hoặc envgioang@gmail.com - Website: http://tonggiaophanhue.net

Copyright © 2009 TRANG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ. All Rights Reserved.