Mục 10 Truyện Giáo lý – Lm E.Gioang sưu tập

In

 

1. Nhờ Mẹ Maria mà trở lại với Giáo Hội sau 74 năm xa cách và chống đối

Câu chuyện xảy ra tại Luân Đôn, thủ đô Anh Quốc.

Một ngày kia, vài nữ tu Công Giáo ở Luân Đôn rời Cộng đoàn để đi làm công tác tông đồ.

Các nữ tu đi thăm các gia đình, và cùng lúc, phân phát các đồ đạo như Tràng Chuỗi Mân Côi, Áo Đức Bà, Sách Kinh Nguyện, các tờ tuần san, nguyệt san và các Ảnh Vảy Phép Lạ (Ảnh Đức Mẹ Ban Ơn).

Các nữ tu cũng sẵn sàng phân phát các đồ đạo cho những người qua đường, nếu họ tỏ dấu vui vẻ chấp nhận. Với cử điệu nhã nhặn khiêm tốn, các nữ tu hứa sẽ cầu nguyện cho họ và xin Thiên Chúa Toàn Năng chúc lành cho họ, cùng toàn thể gia quyến của họ.

Ngày hôm đó, trên đường trở lại Cộng đoàn, các nữ tu gặp một cặp vợ chồng thật đẹp lão, tay trong tay, đang ung dung dạo bước. Cụ ông ăn mặc thật lịch sự và thật sang trọng, với loại y phục đắt tiền. Cụ ông ngậm trên miệng ngậm một điếu xì-gà và nơi bàn tay phải, mang một chiếc nhẫn đen lớn. Dĩ nhiên cụ bà ăn mặc cũng lộng lẫy và sang giàu không kém gì cụ ông.

Lúc đi ngang qua các nữ tu đang đứng, cụ ông buột miệng kêu lên:

Ồ, các nữ tu này ở đâu mà trông xinh quá!

Các nữ tu lễ độ cúi đầu chào như lời đáp trả câu nói của cụ ông. Với nụ cười tươi trên môi, một nữ tu nhanh nhẹn kính biếu hai cụ tờ báo đạo cuối cùng còn lại. Cụ ông vui vẻ cầm lấy, đọc lướt nhanh tựa đề tờ báo và hỏi:

Có lẽ các Chị không biết tôi là ai? Có bao giờ các Chị xem truyền hình không?

Thấy các nữ tu lắc đầu, cụ ông vui vẻ nói tiếp:

Được rồi! Hãy xem truyền hình thì các Chị sẽ thấy tên tôi xuất hiện trên màn ảnh: David Smith! Tôi là kỹ nghệ gia có hàng loạt các hãng xưởng rải rác trên khắp vương quốc Anh. Mỗi lần đến Nhà Thờ để xin dâng Thánh Lễ cầu cho linh hồn mẹ tôi, tôi đều rộng tay dâng cúng một món tiền lớn. Nhưng tôi hoàn toàn chống lại Đức Giáo Hoàng và chống lại tệ nạn di dân. Tôi còn là thành viên của một Đảng phái cực đoan. Tôi và các đảng viên dự định bố ráp một cuộc khủng bố để giết chết kẻ chuyên tìm kiếm việc làm cho các người ngoại quốc. Cuộc ám sát có mục đích dằn mặt tất cả những ai chuyên nâng đỡ nhóm di dân. Như thế, khi không còn kẻ nào trợ giúp, các nhóm di dân bị bắt buộc phải rời Anh Quốc và trở về xứ sở của họ. Tuy nhiên, không phải chính tay tôi sẽ giết chết kẻ ấy, bởi lẽ tôi đã thề hứa với mẹ tôi lúc mẹ tôi nằm trên giường chết, rằng tôi sẽ không giết chết ai hết! Các Chị biết không, lúc sinh thời, thân mẫu tôi vẫn liên lĩ lần hạt Mân Côi cầu nguyện cho tôi. Nhưng tôi thì luôn mang theo bên mình khẩu súng lục để tự vệ. Các Chị có muốn xem nó thế nào không?

Các nữ tu vội vàng từ chối và nói: “Không! Không muốn xem!

Các nữ tu nghĩ ngay đến chuyện biếu cụ David Smith một Ảnh Vảy Phép Lạ:  trong một trường hợp quan trọng như thế này, chỉ duy nhất Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria mới có đủ quyền năng hoán cải cụ ông. Nhưng tìm mãi không còn Ảnh Vảy Phép Lạ nào. Các nữ tu đành cáo biệt hai cụ với lời hứa sẽ nhớ cầu nguyện cách riêng cho cụ ông David Smith.

Kể từ sau ngày gặp gỡ quan trọng ấy, các nữ tu tha thiết cầu nguyện và hy vọng có ngày cụ ông đến gõ cửa Cộng đoàn thăm các chị, và như thế, các chị được hân hạnh trao tận tay cho cụ ông Ảnh Vảy Đức Mẹ Ban Ơn.

Bẵng đi một thời gian mấy tháng trôi qua, các nữ tu vẫn tiếp tục cầu nguyện cho hai cụ, cho đến một ngày, cụ ông David Smith cùng với cụ bà đích thân đến Cộng đoàn thăm các Chị.

Nói sao cho hết nỗi vui mừng của các nữ tu. Các nữ tu vui mừng trao tặng cụ ông Ảnh Vảy Phép Lạ. Và phép lạ đã xảy ra thật.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, cụ David Smith trở lại thăm các nữ tu và nói: Xin các Chị làm ơn mời ngay một vị linh mục nào bằng lòng ban Phép Giải Tội cho một người đã bỏ xưng tội từ 74 năm, một người được may mắn gặp các nữ tu Công giáo vừa đi, vừa lần hạt Mân Côi ngay trên đường phố của thủ đô Luân Đôn! Hình ảnh này nhắc nhở người ấy nhớ đến người mẹ hiền vẫn hằng ngày lần hạt Mân Côi cầu cho phần rỗi linh hồn của người con trai hoang đàng, dám ngạo mạn chống lại Đức Thánh Cha, chống lại Giáo Hội Công giáo, duy nhất, thánh thiện và tông truyền!

Các nữ tu chỉ chờ đợi giây phút vui mừng trọng đại ấy. Và cụ ông David Smith đã giao hòa cùng Thiên Chúa.

Thời gian lâu sau đó, cụ ông êm ái ra đi trở về Nhà Chúa trong tâm tình tri ân con thảo đối với người mẹ trần gian, và nhất là, đối với Hiền Mẫu Maria chí thánh dấu yêu ở trên thiên quốc.

2. “Đức tin của con quý hơn mạng sống của con nhiều!” +

Trong thời kỳ Giáo Hội Mể Tây Cơ bị bách hại, người ta thấy quân nghịch Đạo cột sau xe ôtô một chàng thanh niên. Chàng nầy chỉ có một tội: không chịu bỏ Đạo, không chịu từ chối Đức Tin của mình.

Xe ôtô lăn bánh mạnh và nhanh trên con đường gồ ghề. Chàng thanh niên công giáo nầy cắn răng lại: thịt chàng nát bầm, máu tuôn chảy ra lai láng, bùn và đất lấp phủ cả mặt mũi.

Bỗng tiếng phanh rít lên và xe ôtô dừng phắt lại. Quân nghịch Đạo nhảy xuống xe, lấy gươm dí vào đầu chàng thanh niên nầy và la lên một cách tức tối:        “Mầy hãy nói đí: Đả đảo Giêsu Kitô! Nếu không, mầy sẽ chết!

Nghe tiếng rộn ràng trước cửa nhà, một người đàn bà vội chạy ra. Bà như điên lên khi thấy người con trai yêu quý của mình phải bị hành hạ quá sức dã man. Nhưng để bảo vệ đức tin của con mình, bà mẹ anh hùng nầy liều mình xông vào giữa đám lính, đến quỳ bên cạnh con đang hấp hối. Bà vừa khóc, vừa ôm đầu con, vừa nói rõ từng tiếng bên tai con:

Con ơi, con đừng bỏ Chúa nhé! Con đừng bỏ Đức Tin của con nhé! Đức Tin của con quý hơn mạng sống của con nhiều!

Người con trai liền gật đầu và chết trong vòng tay tay của mẹ mình, trước mặt đám quân lính độc ác, nghịch Đạo, đang ngơ ngác, không hiểu vì sao hai mẹ con nầy lại anh dũng đến thế!

3. Xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi chạy đến cùng Mẹ. +

Nhận ra Ơn Gọi để thực hiện chương trình Thiên Chúa, đó là chặng đường căn bản đầu tiên của mỗi người. Từ đó, việc lắng nghe Lời Chúa trở thành điều kiện tiên quyết.

Lắng nghe Tiếng Chúa trong thinh lặng, tách khỏi thế gian, trong trầm lắng của cầu nguyện, luôn hướng mắt nhìn về Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria. Khi ấy, Thiên Chúa sẽ nói vào tận tâm lòng mỗi người và tỏ lộ chương trình Tình Yêu của Ngài.

Sau đây là chứng từ ơn gọi của một nam tu sĩ Phi Luật Tân Dòng Anh Em Phan Sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm.

+++

Tôi nhớ rõ khi lên 9 tuổi vào ngày Rước Lễ Lần Đầu, tôi ngạc nhiên nhìn đăm đăm Tấm Bánh Trắng Huyền Nhiệm đang ở trước mặt tôi. Cũng chính ngày ấy, Thiên Chúa gieo  hạt giống đầu tiên của Ơn Gọi vào lòng tôi.

Mỗi buổi sáng kia, trước khi mặt trời ló dạng, tôi cùng với bạn bè, cha mẹ và anh chị em họ hàng, cùng nhau đến Nhà Thờ lần hạt Mân Côi. Kinh Mân Côi là Kinh đầu tiên tôi học được.

Vào thời kỳ ấy, gia đình chúng tôi sống tại Bohol, quê sinh của thân phụ tôi. Bohol là một trong số 7.100 đảo lớn nhỏ của Phi Luật Tân. Nơi đây, toàn tòng là tín hữu Công Giáo và vẫn còn giữ nguyên Đức Tin do Cha Ông truyền lại. Đức Tin là di sản thiêng liêng quý báu của các Thừa Sai Tây Ban Nha.

Thế rồi mọi sự đảo lộn.  Việc xích mích trong gia tộc nhà chồng, khiến mẹ tôi quyết định khăn gói mang trọn gia đình trở về sống nơi quê mẹ trên đảo Lapu.          Tưởng rằng đây là giải pháp tốt. Nào ngờ nó kéo theo hậu quả thảm thương về phương diện tài chánh: ba tôi mất việc làm; mọi chi phí trong gia đình giờ đây, chỉ trông nhờ vào đôi bàn tay đảm đang của mẹ tôi. Mẹ tôi làm việc suốt ngày và trọn đêm để có đủ tiền để gởi tất cả anh chị em chúng tôi đến trường.

Mẹ tôi bỗng trở nên trầm lặng, ít nói. Người giữ kín mọi chuyện trong lòng. Đó là bài học đầu đời mẹ ghi khắc vào trái tim thơ trẻ của tôi.

Để an ủi mẹ, tôi cố gắng học thật chăm và thật giỏi. Tiến bộ học vấn của tôi làm mẹ hài lòng. Nhưng hạnh kiểm tốt của tôi không kéo dài lâu. Chẳng mấy chốc, tôi chạy theo nhóm bạn xấu rong chơi, lăn xả vào chuyện phù phiếm của thế gian giả trá. Đam mê xác thịt bỗng trở thành chiếc vòng xích trói chặt tôi. Tôi bỏ rơi đường ngay nẻo chính và bỏ luôn nguyện ước trở thành tu sĩ. Tình trạng thảm thương đến độ Thiên Chúa đích thân can thiệp vào cuộc đời tôi.

Trong những xáo trộn của trái tim, tôi bắt đầu nhận ra cái hiểm nguy mà linh hồn tôi đang lao vào. Biến cố giúp tôi thay đổi hẳn cuộc sống, diễn ra vào năm thứ hai bậc trung học đệ nhị cấp. Một ngày kia, một người bạn thuộc phong trào Giới Trẻ Công giáo, nói với chúng tôi về Ngày Phán Xét Chung, Ngày Tận Thế và sứ điệp của Đức Mẹ Fatima.

Tôi thật sự xúc động trước lời lẽ trình bày của người bạn hiền và bắt đầu cảm thấy run sợ trước sự Phán Xét công minh của Thiên Chúa. Ngay ngày hôm ấy, tôi và tất cả bạn, chúng tôi kéo nhau đến Nhà Thờ để xưng tội.

Rồi tôi ghi tên vào Phong Trào Giới Trẻ Công giáo do các Tu Huynh Phan Sinh Đức Mẹ Vô Nhiễm phụ trách. Mỗi Chúa Nhật đầu tháng, tôi cùng các bạn tham dự khóa huấn luyện. Mỗi buổi chiều, tôi tham dự Thánh Lễ; sau đó, cùng với các bạn trẻ trong Phong Trào, chúng tôi tụ họp để cầu nguyện và học giáo lý.

Từ đó, tôi thay đổi cuộc đổi đời tận gốc rễ. Thời giờ giải trí, tôi dành cho việc học và cầu nguyện. Nơi chốn tôi thích lui tới, là Nhà Thờ và Nhà Nguyện có đặt Mình Thánh  Chúa Giêsu Kitô.

Tôi cũng ưa chuộng nơi vắng vẻ thinh lặng. Lời Chúa trở thành lương thực nuôi dưỡng tâm linh, và Tràng Hạt Mân Côi trở thành vật thánh tôi rất thích siết chặt trong lòng bàn tay, và nhất là, rất thích lần hạt Mân Côi.

Thân mẫu tôi ghi nhận tất cả chuyển hướng đổi thay tích cực nơi tôi, nhưng người luôn giữ thinh lặng. Mẹ để tôi tự do sống theo ý hướng ngay lành và thực thi hành động thánh thiện. Thân phụ tôi trái lại, người tỏ ra khó chịu trước lối sống khác thường của tôi. Nhưng rồi ơn thánh Thiên Chúa dần dần biến đổi tâm lòng của cha tôi, khiến người không còn chống đối nữa.

Mùa hè niên khóa 1998-1999, với sự chấp thuận của hiền mẫu, tôi đến sống thử một thời gian nơi tu viện Anh Em Phan Sinh Vô Nhiễm. Thật là kinh nghiệm tuyệt vời. Đây chính là lối sống tôi hằng tìm kiếm. Sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian.

Trở lại gia đình, tôi tỏ bày nguyện ước dâng hiến cuộc đời cho Thiên Chúa với Song Thân. Mẹ tôi tỏ ra thật hài lòng. Người vui vẻ nói với tôi:

Nếu đây là nếp sống làm cho con hạnh phúc thì con hãy an tâm ra đi”.

Thân phụ tôi luôn luôn phản ứng ngược lại. Người cau có khó chịu:

Để tao tìm cho mày một công việc xứng hợp hầu để thực hiện mộng ước tao ôm ấp cho mày”.

Nói xong, người ôm mặt khóc.

Dẫu nhìn thấy nước mắt thân phụ tuôn chảy, lòng tôi vẫn cương quyết giữ vững ý định dâng hiến toàn thân cho Thiên Chúa.

Tôi chính thức gia nhập Tu Viện ngày 31-5-2000, Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng. Tôi bắt đầu cuộc sống mới với tâm tình phó thác nơi vòng tay bảo bọc chở che của Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria. Tôi xin Đức Mẹ hướng dẫn tôi thực hiện chương trình Thiên Chúa trên cuộc đời tôi. Chương trình đó, chính là việc tôi phải trở nên giống hình ảnh Chúa Giêsu và Mẹ Ngài. Thế nhưng, đôi lúc tôi cảm thấy lo âu và tự hỏi:   “Liệu mình có đủ khả năng thực hiện chương trình của Thiên Chúa  không?

Khi tự hỏi như thế, bỗng tôi nhớ lại lời của Chân Phước Mẹ Têrêxa Calcutta (1910-1997):

Nếu con giữ lời con đã hứa, Chúa Giêsu cũng sẽ giữ lời Ngài hứa.”

Chính với tư tưởng ấy mà tôi đến quỳ dưới chân Đức Mẹ Maria, và tôi nghe một tiếng nói dịu dàng vang lên:

Con hãy đăm đăm nhìn Mẹ thì con sẽ không bị hư mất”.

Câu nói này gieo vào lòng tôi niềm tín thác vô biên. Đức Mẹ Maria muốn tôi luôn sống với Đức Mẹ, nói với Đức Mẹ và nói về Đức Mẹ. Tôi hy vọng rằng từ đây, dẫu đường đời có muôn vàn chông gai khốn khó, tôi vẫn luôn nép dưới bóng Áo Mẹ chở che. Tôi hy vọng và tin tưởng vững vàng như thế.

4. Lời thưa vâng với Chúa đã thay đổi cuộc đời một linh mục khuyết tật +

Cách đây 11 năm, cha Francesco Cristofaro, bước từng bước không vững trên đôi chân cong queo, dâng Thánh lễ đầu tiên của đời linh mục, và với giọng nói mạnh mẽ, chắc chắn, cha rao giảng niềm vui dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa, với tất cả giới hạn của mình.

Cuộc đời của cha Francesco không phải là một cuộc đời bình thường như nhiều linh mục khác.

Francesco chào đời năm 1979, sinh non gần 2 tháng, với đôi chân co cứng. Khuyết tật này ngay lập tức đã gây nên vô số vấn đề, tạo nên những giọt nước mắt và đau khổ, trước hết là với cha mẹ của Francesco, khi họ phải sống với một hoàn cảnh mới mà họ không mong muốn hay chờ đợi.

Một ngày khi đã lớn, Francesco hỏi mẹ:

Mẹ ơi, nếu khi đang mang thai con mà mẹ biết con sẽ bị dị dạng, mẹ có bỏ con không?

Bà mẹ trả lời:

Không! Nhưng bây giờ, chính mắt mẹ thấy con như thế này là nhờ ơn Chúa. Mẹ muốn sinh con 100 ngàn lần.”

+++

Khi được 2 tuổi, Francesco vẫn chưa đi được.

Bà mẹ đang mang thai đứa con thứ 3, buộc phải luôn bế Francesco trên tay, và cùng với chồng, đưa con đi tập vật lý trị liệu. Dù được bao bọc bởi tình thương của gia đình, của họ hàng và bạn bè, nhưng Francesco đã có một tuổi thơ đầy khó khăn. Khi mà những đứa trẻ khác chơi bóng đá, Francesco phải chơi với những chiếc xe đồ chơi ở trong nhà. Khi các bạn được đi du ngoạn với trường học, Francesco phải từ khước không đi để tránh nguy hiểm bị té ngã hay làm cho mình bị thương.

Francesco đã đến Nhà Thờ từ khi còn là một đứa trẻ để chuẩn bị Rước Lễ Lần Đầu.

Khi lên 13 tuổi, Francesco được biết về Phong trào Tông đồ, một phong trào phát sinh ở Catanzaro vào năm 1979 với sứ mệnh nhắc cho thế giới nhớ đến Tin Mừng mà họ đã quên, và loan báo Tin Mừng cho những ai chưa biết.

Francesco bắt đầu học giáo lý và tham dự các buổi tĩnh tâm.

Dần dần, một chân trời hoàn toàn mới đã mở ra với cậu. Francesco bắt đầu biết đến Tin Mừng, nét đẹp của Các Điều Răn và Các Mối Phúc, quen thuộc với Kinh Mân Côi, rồi tham gia tích cực vào sinh hoạt giáo xứ như một thừa tác viên, giáo lý viên, linh hoạt phụng vụ…

Francesco gặp gỡ nhiều linh mục và nhiều lần khi nghe lời Chúa Giêsu “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ sai nhiều thợ gặt cho mùa gặt”, Francesco luôn nghĩ đến việc thánh hiến cho Chúa và đã để trái tim mình mở rộng. Chúa đã không chậm trễ gõ cửa trái tim của Francesco. Một ngày kia, khi Francesco  đang ở trong vườn nhà và đọc cuốn sách rước lễ lần đầu, khi đọc nghi thức Thánh lễ, đặc biệt là lời truyền phép: “Các con hãy nhận lấy, này là Mình Thầy …”, Francesco đã cảm thấy một sự khích động đặc biệt và đã thưa với Chúa Giêsu: “Chúa muốn điều gì nơi con?” Và từ lúc đó, Francesco quyết định trở thành linh mục.

Lúc đầu khi quyết định cho ơn gọi linh mục, Francesco cũng không có can đảm để thực hành quyết định này, vì nghĩ là mình sinh ra với đôi chân bị tật và luôn đi đứng khó khăn, không bình thường. Chính trong Thánh lễ rước lễ lần đầu ở giáo xứ, đã xảy ra điều thật sự buồn đối với Francesco: khi đang giúp lễ, Francesco bị té ngã xuống đất. Từ ngày đó, Francesco bị nản chí, mất can đảm. Francesco tự nói:           “Nếu mình không thể cầm chén lễ thì làm sao có thể làm những điều khác!”.

Cha linh hướng đã giúp cho Francesco đặt mình trước Chúa và nhận ra điều Chúa muốn và quyết định. Cha linh hướng đã giúp cho Francesco rất nhiều trong giai đoạn quyết định khó khăn và tìm lại được lòng can đảm.

Bên cạnh đó, mẫu gương sống động của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, mà Francesco đã có cơ hội gặp và được chúc lành, cũng giúp cho Francesco thêm kiên định tiếp tục hành trình.

Ngày nay, cha Francesco là cha xứ cộng đoàn Đức Mẹ Lên trời ở Simeri Crichi, tỉnh Catanzaro, Italia. Cha là người hoạt động trên các trang mạng xã hội, trên đài phát thanh và truyền hình, cha dấn thân để các tin tốt lành được loan báo. Cha luôn xem ơn gọi Linh mục là món quà đẹp nhất và quý giá nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho cha, và đồng thời, cũng là sứ vụ mà chỉ có thể hoàn thành khi có được đôi mắt, miệng lưỡi, và trên hết, là trái tim của Chúa Giêsu.

Cha Francesco đã xuất bản cuốn sách tựa đề “Lời thưa vâng của tôi với Chúa. Chúng từ của đời sống linh mục”, trong đó cha đã thuật lại kinh nghiệm của các linh mục khác, những người đã sống, phục vụ và thi hành sứ vụ, từ bắc chí nam Italia, trong những hoàn cảnh khác nhau, từ giáo xứ đến nhà tù, từ nhà thương đến trường học, trong các nơi đón tiếp, trong đài phát thanh và truyền hình, tóm lại là giữa dân chúng và với dân chúng, như Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở chúng ta.

Trong cuốn sách, cha Francesco cũng kể lại, khi còn là một cậu bé, đứng trước gương, nhìn vào đôi chân của mình, Francesco lẩm bẩm “cong queo, yếu ớt” và cầu nguyện để được chữa lành. Cha chia sẻ:

Thật ra, Đức Mẹ không nghe lời cầu xin của tôi và các thánh bịt tai đối với tôi. Tôi đã nghĩ là mình xấu xa, không tốt và không đáng được điều gì cả, tại sao một đứa trẻ không được lắng nghe?

Có lẽ trận chiến khó khăn nhất mà tôi phải trải qua trong đời mình, đó là cảm thấy mình là một con người vô dụng đối với người khác, vô ích cho thế giới, và cho cả chính mình và cho Chúa. Tôi ao ước một cuộc sống không có lòng thương hại, không nghe nói “thằng bé tội nghiệp!”, và tôi đã buồn vì thế giới chúng ta, luôn bị thu hút bởi vẻ đẹp, bởi sự hoàn thiện, bởi những thứ hoạt động tốt, loại bỏ thứ không được đẹp và không hoàn hảo theo những tiêu chuẩn của thế gian.”

Cuộc gặp gỡ với Chúa đã giúp cho Francesco không còn cảm thấy mình ở ngoài lề, bị loại bỏ, nhưng là trung tâm của thế giới, quý giá. Francesco nhận ra rất nhiều người cũng đang sống trong cùng thảm cảnh như mình. Cha muốn là với chứng từ của mình, giúp đỡ những người nhiều lúc bị cột chặt trong nỗi đau của mình và trong im lặng, không có niềm hy vọng. Bởi vì Thiên Chúa không thiên vị người nào. Thiên Chúa không bao giờ thiên vị giữa người giàu và nghèo, giữa người bệnh tật và người khỏe mạnh, người xấu hay người đẹp, kẻ mạnh hay kẻ yếu. Tât cả chúng ta đều là con của Người. Thên Chúa chỉ phân biệt một điều duy nhất, đó là người công chính và kẻ bất lương.

Nhờ đức tin, Francesco không còn cầu xin được chữa lành thể xác, nhưng cầu xin một tình yêu lớn lao cho cuộc sống và cho sự sống của người khác. Và điều này, chính là phép lạ lớn lao mà Chúa đã ban cho Francesco. Chẳng bao lâu, cậu bé buồn phiền này đã tìm lại niềm vui sống, đã đi từ một người luôn nói “tôi không có ích cho ai cả”, trở thành người nghĩ về mình như một khí cụ của ân sủng trong bàn tay của Chúa. (Avvenire 10/04/2017)

5. Tin vào Chúa Giêsu qua một vị linh mục +

Theo nhật báo Chứng Nhân kitô hữu (Témoignage Chrétien), vào năm 1941, có một vị linh mục bị Đức Quốc Xã giam trong trại tập trung dành cho người gốc Do thái.

Như bao tù nhân khác, ngài cũng bị hành hạ và ngược đãi thậm tệ. Tuy nhiên, ngài vẫn vui vẻ và luôn sẵn sàng giúp đỡ anh em đồng cảnh ngộ đang lâm vào tình trạng khủng hoảng và tuyệt vọng.

Trong cảnh tù đày đói khát, một vụn bánh còn quý hơn vàng, vậy mà ngài dám chia sớt phần ăn ít ỏi của mình cho những bạn tù yếu sức hơn.

Những lúc trời rét buốt xương, tấm áo len được xem là kho tàng vô giá, thế mà có lần ngài tặng không chiếc áo len đang mặc, cho bạn tù đang lâm trọng bệnh nằm run cầm cập trong xó nhà.

Ngài là nhịp cầu yêu thương giữa những kẻ bất hoà, đem sự khích lệ tinh thần cho những tâm hồn sầu muộn. Ngài đã cứu được mấy bạn tù tuyệt vọng khỏi tự huỷ mình nhờ những khuyên lơn an ủi.  Vì thế, các tù nhân trong trại rất yêu quý và xem ngài như người cha thứ hai. Họ đều gọi ngài cách thân thương là... Bố.

Trong trại tù, còn có một thanh niên bụi đời, lớn lên nơi đầu đường xó chợ, căm hờn mọi người, không ngần ngại phạm bất kỳ tội ác nào. Vị linh mục khả ái từng bước tiếp cận, trò chuyện, giúp đỡ, khuyên răn, và cuối cùng, đã cảm hoá được chàng thanh niên chai đá và tưởng chừng như vô phương cứu chữa nầy. Ngài cũng mong ước dần dần dẫn dắt cậu về với đạo thánh Chúa.

Thế rồi, một hôm, có lệnh chuyển cha sang trại Ao-sơ-vích (Auschwitz), một trại tập trung mà chỉ mới nghe danh xưng, mọi trại viên đều phải kinh hoàng. Đó là lò hủy diệt con người bằng những hầm hơi ngạt và lò thiêu xác.

Trước khi chia tay với các bạn tù, và đặc biệt với cậu thanh niên mới hoàn lương, ngài quyết định phải giới thiệu đôi nét về Chúa Giêsu cho cậu với hy vọng cậu sẽ trở thành người con Chúa. Ngài vỗ vai cậu và ôn tồn nói: “Này, con yêu của Bố, đã từ lâu Bố rất mong con nhận biết và trở thành môn đệ Chúa Giêsu”.

Cậu thanh niên thưa lại:

Nhưng con chưa biết gì về Chúa Giêsu cả. Bố có thể kể sơ lược về Ngài cho con biết được không?

Biết mình không còn thời gian để giới thiệu dông dài vì giờ chuyển trại sắp đến, vị linh mục già thinh lặng cúi đầu, cầu nguyện giây lát, rồi ngài ngẩng lên khiêm tốn đáp:

Chúa Giêsu mà Bố muốn cho con tin và yêu mến, Ngài giống như Bố đây!

Bấy giờ cậu thanh niên nhìn thẳng vào mắt ngài cách trìu mến và chân thành đáp lại:

Nếu Chúa Giêsu mà giống Bố thì có thể một ngày nào đó, con sẽ tin và yêu mến Chúa Giêsu!

6. Cây Thập Giá Thật +

Thánh Giá là Cây Thập Giá Thật vì chính Chúa Giêsu đã chịu chết trên đó.
Nhưng làm sao tìm ra được Thập Giá Thật? Đây là một điều không thể nào làm được theo sức tự nhiên của con người. Vậy thì chỉ nhờ sức Chúa mà thôi! Và thật sự, Cây Thập Giá thật đã được tìm ra bằng sức Chúa.

Số là bà thánh Hêlêna, mẹ của hoàng đế Constantinô, sai đào trên Núi Sọ, thì tìm được ba cây thập tự. Đây là lúc đầu thế kỷ thứ tư.

Bà thánh Hêlêna lúc bấy giờ đã 80 tuổi. Bà đến gặp Đức Giám Mục của thành Giêrusalem, lúc bấy giờ là thánh Macariô, để xin ngài xác nhận Cây Thập Giá Thật của Chúa Giêsu.

Thánh Macariô truyền đem ba cây thập tự đến giường của một người phụ nữ đau nặng, sắp chết.

Đưa cây thứ nhất và cây thứ hai đụng đến người bệnh, người bệnh không không mảy may bị ảnh hưởng gì. Nhưng khi cây thứ ba đụng đến người bệnh sắp chết, người bệnh liền lành hẳn bệnh ngay và có lại sức khoẻ như trước.

Phép lạ nầy chứng minh cây thứ ba là Cây Thập Giá Thật của Chúa Giêsu, và từ đó, được gọi là Cây Thánh Giá để tín hữu tôn kính và ngợi khen.

7. Câu lạc bộ “Bạn giúp Bạn” +

Câu lạc bộ “Bạn giúp Bạn” hình thành tại Sài gòn năm 1996, do bác sĩ Nguyễn Bửu Hiền điều hành với 6 thành viên đều đã nhiễm HIV.

Những “người bạn” này tự suy nghĩ:

Cuộc đời mình dù đã tới dấu chấm hết, nhưng vẫn còn có thể có ích cho xã hội, họ đã dấn thân phục vụ bằng những việc đơn giản như an ủi, động viên và chăm sóc các bệnh nhân khác để chính họ cũng sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời.

Lúc ấy giờ, câu lạc bộ “Bạn giúp Bạn” đã có khoảng 500 thành viên, tỏa mạng lưới ở khắp quận huyện. Ban điều hành gồm 12 người, trong đó có 3 người Công giáo, riêng nữ tu Trần Thị Kim Loan, Dòng Đa minh Tam Hiệp, là phó chủ nhiệm phụ trách hoạt động xã hội và tham vấn cho người nhiễm HIV.

Trụ sở đặt tại 43 đường Lam Sơn, quận Bình Thạnh.

Chị Kim Loan kể lại một kỷ niệm về một nhạc sĩ mất vào tháng 8 năm 1998. Trước đó, anh đã xin được chịu Bí tích Thánh Tẩy với một Đức Tin mạnh mẽ:

Mỗi lần cùng với tôi ra vào bệnh viện Nhiệt Đới ở Chợ Quán, khi ngang qua tượng đài Đức Mẹ, anh thường đề nghị dừng lại cầu nguyện. Khi trước, mỗi đêm chơi nhạc, được bao nhiêu tiền, anh đều phung phí hết. Bây giờ, anh đưa hết cho tôi vì muốn góp một phần khiêm tốn cho những bệnh nhân nghèo. Chính việc này đã giúp anh tìm thấy ý nghĩa cuộc đời còn lại, và anh đã ra đi bình an trong tình yêu của Chúa”.

8. Phim “Đời Vẫn Đẹp” +

Cuốn phim có tựa đề: “Đời Vẫn Đẹp” do Roberto đạo diễn và thủ diễn. Cuốn phim đã nêu lên câu truyện của người Do Thái cùng với vợ và đứa con trai nhỏ, bị Đức Quốc Xã đưa vào trại. Nhờ tài khôi hài, ông đã giữ vững được tinh thần của đứa con khi quân đội đồng minh đến giải thoát.

Cuốn phim gợi lại kinh nghiệm của bác sĩ Victo Rey, ba năm lưu đày tại Ba-Lan và nhiều trại tập trung khác của Đức Quốc Xã, đã giúp cho vị bác sĩ chuyên gia tâm lý này khám phá được một chân lý quan trọng trong cuộc sống của con người, chân lý đó, là trong những hoàn cảnh nghiệt ngã đau thương nhất con người, vẫn có thể tồn tại nếu họ có niềm tin và tìm được ý nghĩa của cuộc sống.

Bác sĩ Brand đã quan sát những phản ứng khác nhau của các bạn tù của ông. Có những người, trước khi vào tù thì được mọi người trọng vọng và ngưỡng mộ, thế nhưng bỗng chốc lộ nguyên hình của những kẻ hèn hạ, có thể bán đứng anh em vì một chút lợi lộc nhỏ mọn.

Một số khác, thoạt tiên, thể hiện bản lĩnh của những nhà lãnh đạo, thế nhưng liền sau đó, thất vọng và ngã gục chỉ trong vài ngày.

Trái lại, cũng không thiếu những người rất ít được mọi người chú ý đến, họ đã âm thầm chịu đựng cho đến cùng và được sống còn.

Tìm hiểu sự khác biệt giữa những hạng người trên đây, bác sĩ Brand khám phá ra rằng, chính mục đích và ý nghĩa của cuộc sống là sức mạnh làm cho con người tồn tại trong những điều kiện tột cùng khốn khổ của cuộc sống.

Trong kinh nghiệm bản thân, bác sĩ Brand cho biết, chính tình yêu đối với vợ ông đã giúp cho ông tiếp tục tìm thấy ý nghĩa và lẽ sống trong tận đáy của hỏa ngục.

Mặc dù không biết vợ mình bị giam giữ ở đâu, còn sống hay đã chết, bác sĩ Brand đã chia sẻ kinh nghiệm như sau:

Không có gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu, những ý nghĩ và hình ảnh người vợ yêu dấu của tôi, cho dẫu người ta có báo tin rằng vợ tôi đã chết thì tôi sẽ không bao giờ ngưng chiêm ngắm hình ảnh của nàng và thôi không chuyện vãn với nàng nữa. Càng lúc, tôi càng cảm nghiệm được hình ảnh của vợ tôi; vợ tôi vẫn luôn ở bên cạnh tôi.”

Chính tình yêu đối với vợ đã mang lại hy vọng và sức mạnh giúp cho bác sĩ Brand chịu đựng mọi nghịch cảnh và tồn tại cho đến ngày được giải cứu khỏi các trại tập trung.

Khám phá được ý nghĩa của cuộc sống, đây hẳn không phải là một điều xa xỉ hay phụ thuộc trong cuộc sống con người, mà là một nhu cầu hiện sinh còn quan trọng hơn cả các ăn thức uống của con người.

9. Tại sao anh không yêu mến Chúa? +

Thánh Phanxicô Assisi có lòng mến Chúa và yêu người rất sâu xa. Một hôm, ngài gặp một người bạn, người này nói với thánh nhân rằng ông ta không thể nào yêu mến Thiên Chúa được.

Đang khi hai người đi đường thì gặp một người hành khất vừa mù vừa què. Thánh nhân hỏi người hành khất:

Nếu tôi chữa cho anh thấy và đi được thì anh có yêu mến tôi không?

Người hành khất trả lời:

Dạ thưa ngài, không những tôi yêu mến ngài, mà tôi xin dâng hiến trọn phần còn lại của đời tôi để phục vụ ngài.

Nghe câu trả lời của người hành khất xong, thánh nhân quay sang người bạn đang đứng bên ngài nói:

Đấy, anh thấy không, người hành khất này chỉ thấy được, đi được, thế mà còn hứa với tôi như thế, huống hồ là anh, anh không những được Chúa dựng nên với chân tay mắt mũi lành lặn. Ngài lại còn chịu chết để cứu chuộc anh nữa, đang khi đáng lý ra anh phải chết vì tội của anh. Vậy mà anh lại không yêu mến Chúa sao?

10. Các thánh say yêu Chúa Giêsu Thánh Thể +

Thánh Phêrô Giulianô Eymard viết:

Được Chúa chiếm đoạt và chiếm đoạt được Chúa, là đoạt được Tình Yêu hoàn hảo.

Ai có trái tim trong sạch, biết tới gần Nhà Tạm và liên kết mình với Chúa Giêsu trong Bánh Thánh bằng lòng khiêm tốn và mến yêu, sẽ đoạt được Vương Quốc Tình Yêu hoàn hảo nầy.

Thánh Phanxicô nói:

Ôi sự khiêm nhượng thẳm sâu và sự thẳm sâu khiêm nhượng, Chúa vũ trụ, Con Thiên Chúa đã hạ mình xuống tới nỗi ẩn mình dưới hình bánh để cứu rỗi chúng tôi. Anh em thân mến, đây là con đường khiêm tốn của Chúa. Bởi thế, anh em đừng còn coi mình là gì nửa, để anh em có thể đón nhận đầy đủ Đấng ban trót mình cho anh em”.

Với tình yêu cảm kích, thánh Anphongsô than thở rằng:

Ôi Giêsu, trong Thánh Thể, Chúa đã dùng phương thế đáng yêu chừng nào, vì Chúa ẩn mình dưới hình bánh để Chúa được yêu mến, và sẵn sàng ở đó để bất cứ ai muốn đến thăm Chúa, đều được thoả lòng”.

+++++++++++++++++++

 

.: Trang tin của Tổng Giáo Phận Huế - Phụ trách: LM. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang :.
Địa chỉ: 69 Phan Đình Phùng - Huế - Việt Nam - Tel: 84.54.3831967

Email: tonggiaophanhue@gmail.com hoặc envgioang@gmail.com - Website: http://tonggiaophanhue.net

Copyright © 2009 TRANG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ. All Rights Reserved.