Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm C – Vài bài suy niệm về Lời Chúa (II)

In

Gs 5,9a.10-12 / 2Cr 5,17-21 / Lc 15,1-3.11-32

+++

Hãy thay đổi  

 

      Dụ  ngôn “người con hoang đàng” là một câu chuyện cảm động, thú vị nhất của Tin Mừng Lu-ca. Qua dụ ngôn này, Chúa Giê-su muốn nói tới người tội lỗi biết ăn năn sám hối trở về với tình thương của Thiên Chúa. Chúng ta hãy tìm hiểu hoàn cảnh, thái độ và tâm lý của người con hoang đàng và ghi nhận bài học hữu ích cho chúng ta.

      Người con hoang đàng này là người con thứ trong một gia đình khá giả, nên cậu được nhiều ưu đãi nuông chiều, cậu mới lớn, chân trời xa thẳm như chỉ có bình minh, một tương lai trải dài sáng rực trước mắt đang mời mọc lôi cuốn, từ đó cậu nuôi ý tưởng thoát ly. Cậu suy tính : ở nhà cha mẹ, dù có tình thương, dù có đầy đủ mấy đi nữa thì ngôi nhà kia cũng không về tay cậu, vì quyền trưởng nam nằm vào tay người anh rồi, còn gì nữa mà ở lại. Một con chim khuyên có ở trong chiếc lồng sơn son thiếp vàng, đủ dư gạo trứng, cũng không sướng bằng một bầu trời thênh thang tự do bay nhảy, cậu nghĩ ra như thế, ở gia đình mình sao nho phong tù túng kỷ luật như mất cả nhân vị, còn bao nhiêu chương trình, bao nhiêu dự định tương lai phải thực hiện, phải tạo dựng cơ nghiệp cho mình, phải kinh nghiệm sống mới được, mình phải tạo ra thời cơ, là người của thời cuộc chứ !

      Nhưng tuổi trẻ dễ ngông cuồng dại dột, tuổi trẻ  thường nông nổi, làm trước nghĩ sau, hành động trước khi suy nghĩ, khôn đâu có ở tuổi trẻ, khỏe  đâu có ở tuổi già. Thế là cậu nằng nặc đòi cha chia gia tài, số gia tài được  đổi thành tiền để dễ dàng ra đi. Vừa trẻ lại có tiền, lại được tự do, không bị ai ràng buộc, chỉ còn có một con đường thẳng tắp nhào tới, đó là hư hỏng. “Làm trai cho đáng nên trai, xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài tan”, thì ở đây, đông đoài đã làm tan nát đời cậu, cậu đi phung phí tiền bạc nơi giang đầu, bạn bè với những hạng đàng điềm, “bắc thang lên hỏi ông trời, những tiền cho điếm có đòi được chăng ?”. Thế là tiền mất tật mang, hết tiền hết bạc hết ông tôi, địa vị của cậu suy sụp quá lẹ, lẹ như đồng tiền tiêu hoang, còn lại cho cậu là thân tàn ma dại, quần áo rách bươm, đầu tóc rối bù, bàn tay và tấm lòng ô uế, nhơ bẩn, cái bụng đói meo.

      Tội nghiệp cho một chàng trai trác táng phóng đãng. Ai cũng biết cậu mất hết danh dự, mất hết cơ nghiệp, của thiên trả địa, cậu sa sút, thất bại, đến nỗi phải đi chăn heo để sống cho qua ngày. Nghề chăn heo lúc ấy là quá mạt rệp, luật Do Thái cấm nuôi heo và chăn heo, ai ăn thịt heo coi như bỏ đạo Do Thái, họ nói : “Vô phúc cho kẻ chăn heo, vì đó là vô phúc đê hèn nhất”. Nhưng chàng trai này đã phải làm như vậy, cậu đói cùng cực đến nỗi dụ ngôn nói “Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho”. Đó là hình ảnh xấu xa đê hèn khinh bỉ của một tội nhân phản bội. Nhưng rất may, câu chuyện không chấm dứt ở đây. Giữa cảnh đói cùng cực, cậu nghĩ lại gia đình cha mẹ, đó là miếng ván cuối cùng cho kẻ bị đắm tàu. Thử hỏi : giữa cảnh cùng cực như thế, có ai là ân nhân cho cậu hay chỉ có cha mẹ ? Đúng thế, lúc nào cũng chỉ có cha mẹ, lúc nào cũng là tình thương, thế là cậu suy tính lại : “Tôi sẽ về cùng cha tôi, nơi có dư thừa cơm bánh”. Mặc dù lý do trở về không mấy tốt đẹp, nhưng ít ra cái bụng, cái dạ dày vẫn là vấn đề phức tạp mà Thiên Chúa quan phòng có thể dùng đến để lôi kéo tội nhân trở về như đứa con trên đây.

      Người con hoang đàng này đã có một điều rất  đáng biểu dương, là dám trở về mái nhà  xưa, là nơi chàng đã bỏ ra đi. Khi đi kiêu hãnh, đắc thắng, tự mãn, giàu có bao nhiêu, thì  nay trở về khúm núm, túng thiếu, ăn năn thành thật bấy nhiêu. Chàng quay gót 180 độ, rón rén từng bước, mắt ngó về nhà, tấm lòng hồi hộp, miệng nhẩm đi nhẩm lại một câu thống hối. Nhưng từ đàng xa, người cha đã nhìn thấy bóng con, ông lật đật chạy ra đón và ôm choàng lấy con, ông quên đi bao nỗi đắng cay, đổ dồn hết tình thương sang cho con. Quả thực, không có gì có thể thay đổi được lòng người cha thương con chân thực, người cha mãi mãi vẫn là cha, chứ người con thì không hẳn như thế. Ông không bỏ đứa con, càng không lên án nó, ông chỉ biết có một điều, đó là con ông, không những ông tha thứ mà còn phục quyền làm con cho chàng, và mở tiệc mời bạn bè chung vui để mừng con ông trở về. Rồi họ bắt đầu ăn mừng. Họ là ai ? là hai cha con và mọi người trong nhà, nhưng còn thiếu người con cả, anh đang ở ngoài đồng. Về thái độ của người con cả này cũng là một bài học rất đáng suy nghĩ : thái độ hẹp hòi, ích kỷ, xua đuổi, lên án người em. Đây cũng là thái độ người ta thường có đối với những người tội lỗi.

      Như  vậy, chúng ta đã hiểu chủ đích của Chúa Giê-su khi dạy dụ ngôn này. Người cha là hình ảnh lòng nhân lành của Thiên Chúa, và người con hoang đàng chính là thân phận bi đát của con người tội lỗi, cần phải sám hối trở về với Chúa. Hình ảnh người con hoang đàng cho chúng ta thấy bản chất xấu xa của tội lỗi, hậu quả bi đát của tội lỗi, và thái độ cần phải có để có thể thoát ra khỏi tình trạng tội lỗi là sám hối. Sám hối là nhận mình là kẻ tội lỗi, quyết tâm ra khỏi tội lỗi để quay về với Chúa và sống làm con người mới như đứa con hoang đàng đã làm.

      Vì  thế, bài Tin Mừng hôm nay làm cho chúng ta thật phấn khởi, khích lệ chúng ta hãy thi hành việc sám hối, trở về cùng Chúa, đặc biệt trong Mùa Chay này. Mỗi người chúng ta đều có thể nhận ra mình trong hình ảnh người con hoang đàng. Vậy thì Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy cùng với đứa con hoang đàng chỗi dậy, đi về nhà Cha, Cha đang chờ đợi, dù chúng ta tội lỗi đến đâu và nặng nề xấu xa thế nào, chúng ta đừng lo buồn, sợ hãi, chán nản, hãy nhìn vào lòng thương xót của Chúa hơn là nhìn vào tội lỗi của mình. Chúng ta hãy nhớ : tội lỗi của chúng ta có thể lớn, nhưng lòng khoan dung của Thiên Chúa chắc chắn lớn hơn.

Giacôbê  Phạm Văn Phượng op

++++++++++++++++++++


Hãy Trở Về Trong Vòng Tay Cha Yêu Thương

       
THIÊN CHÚA LÀ CHA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

      Sau khi xin được cha số tài sản của mình, người con út rời khỏi gia đình và trẩy đi phương xa. Anh đã phung phí hết tiền của vào lối sống phóng đãng mà không hề nghĩ đến những nỗi vất vả của cha đã làm để kiếm tiền. Khi trong vùng lại xảy ra nạn đói khủng khiếp, anh đã gặp khó khăn. Anh phải đi ở đợ, làm lụng vất vả vẫn không đủ cái ăn. Cuối cùng, khi không còn ai quan tâm, giúp đỡ, khi nếm rất nhiều đau khổ của cuộc đời, anh quyết tâm trở về nhà để xin lòng thương xót của cha.

      Ở nhà, người cha hằng trông ngóng và chờ mong ngày trở về của người con. Khi trông thấy nó đằng xa, ông đã chạnh lòng thương, chạy ra, ôm cổ và hôn lấy hôn để. Ông đã sai đầy tớ mang quần áo, nhẫn xỏ vào cho cậu và giết bê đã vỗ béo để làm tiệc ăn mừng vì “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15, 24).

      Thay vì trách mắng, chửi rủa đứa con bất hiếu, ích kỷ, làm mất danh dự của gia đình thì người cha lại dùng những cử chỉ tha thứ đầy yêu thương để đối xử với người con bội bạc. Trái tim đầy ắp yêu thương của người cha đã tha thứ tất cả những lỗi lầm trước đây anh mắc phạm. Bây giờ, trước mắt ông không phải là thằng con bất hiếu mà là một cậu chủ với thân hình tiều tụy, quần áo rách rưới và đã chịu biết bao nhiêu khổ cực khi rời xa gia đình, rời xa vòng tay yêu thương của người cha. Ông muốn nâng đỡ người con để anh có cơ hội làm lại cuộc đời.

      Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,

      Qua dụ ngôn trên, chúng con nhận thấy mình đôi khi cũng giống như người con hoang đàng. Mặc dù chúng con không đi hoang trong đời sống nhưng chắc chắn đã hơn một lần chúng con đã đi hoang trong tâm hồn. Lối suy nghĩ và hành động của chúng con khác hẳn với đường lối của Chúa. Chúa đã dạy chúng con kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân như chính mình. Thế nhưng, trong đời sống cộng đoàn, trong tương quan với tha nhân, chúng con lại không muốn chấp nhận ai chỉ vì thói ích kỷ bản thân, sợ người khác hơn mình, sợ người khác đụng chạm đến quyền lợi của mình, sợ người khác lợi dụng mình…. Và trong đời sống cầu nguyện cũng thế, miệng chúng con luyên thuyên đọc hết kinh này đến kinh khác nhưng lòng trí chúng con lại để ở nơi khác, giống như một cái xác không hồn. Hoặc chúng con đi lễ Chủ nhật chỉ vì luật giáo hội bắt buộc chứ chưa phải vì lòng yêu mến Chúa. Đôi khi chúng con rước Mình Thánh Chúa vào lòng không phải với lòng ao ước để Chúa biến đổi con người tội lỗi nơi chúng con, nhưng với một thói quen thường làm. Và điều đáng chê trách nhất là đôi khi chúng con mất cảm thức về tội và không cảm thấy cần thiết phải đi xưng tội.

      Lạy Chúa, qua dụ ngôn này, Chúa còn cho chúng con cảm nghiệm  được tình Chúa vô biên trước những tội lỗi chúng con đã phạm. Vì thế, chúng con nhận thấy mình an tâm trở về thú lỗi với Chúa. Thiên Chúa là cha giàu lòng thương xót sẽ tha thứ tất cả nếu chúng con thật lòng quay đầu trở về, gieo mình vào vòng tay yêu thương của Ngài. Hơn nữa chúng con tin rằng, Thiên Chúa là cha yêu thương trước khi chúng con yêu thương Ngài, Ngài luôn đi tìm chúng con trước khi chúng con tìm Ngài và Ngài luôn mở rộng đôi tay chờ đón chúng con quay trở lại với Ngài.

      Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, 

      Mùa chay là mùa sám hối, sám hối là đổi mới tâm hồn. Xin cho mỗi người chúng con trong Mùa chay này biết dám nhìn lại con người thật của mình, để chúng con thấy được những yếu đuối nơi bản thân mà biết nương tựa vào Chúa. Xin cho chúng con can đảm trở về với Chúa vì tin rằng tình Chúa lớn hơn tội con gấp bội. Ước gì sau mỗi lần được Chúa thứ tha, chúng con lại thấy mình hiền hòa hơn với tha nhân để chúng con luôn được ở trong vòng tay yêu thương của Chúa. Amen.

Vinh sơn Ngô Đức Duy op

++++++++++++++++++++++


CHÚA  ĐANG KHÁT KHAO MONG ĐỢI …   

 

      Thưa quý vị, Có ý kiến cho rằng bài dụ ngôn người con hoang đàng của Phúc Âm hôm nay, hỏng bét về mặt pháp lý. Chúng ta phải sửa lưng tác giả mới được. Nếu cứ theo ông khuyên bảo mà mở cửa đón tiếp kẻ giết người, trộm cướp, hoang đàng thì thế giới này sẽ ra sao ? Xã hội này còn thể thức nào nữa không ? Ngày nào người ta cũng chứng kiến tội phạm ghê gớm vậy mà cứ để cho họ xổng chuồng thì ai còn có thể sống nổi ? Xã hội toàn những kẻ đòi quyền lợi mà không hề lãnh trách nhiệm, thì chắc chắn nhân loại rơi vào hỗn loạn. Vậy dụ ngôn này mang giọng điệu quá nhu nhược, làm thế nào chấp nhận ?

      Chúng ta hãy nghe người con cả lý giải: Cha tôi đối xử với thằng con ông ấy như vậy, chẳng khác nào tát mạnh vào mặt tôi. Nó hoang đàng bỏ đi, tiêu phí hết tài sản với bọn đĩ điếm, rồi trở về ngon lành, không có hình phạt nào cân xứng, thử hỏi gia phong còn giá trị gì nữa không? Nếu ông nhận nó lại như con ăn, đầy tớ, sau khi nó xin lỗi thì còn có lý và chịu đựng được. Tôi sẽ sai nó đi làm những công việc hạ tiện, bẩn thỉu, nặng nhọc, rồi dần dà cho nó chút của cải, địa vị và như vậy tôi mới hài lòng cho phép nó ở lại nhà. Không nên không phải tôi sẽ tống cổ nó ra khỏi cửa, nó đâu có quyền lợi gì nữa? Đàng này cha tôi lại hồ hởi đón tiếp nó, không một lời trách móc, hạch tội. Lại còn mở tiệc vui mừng, bê béo, rượu ngon, quần áo đẹp, nhẫn xỏ tay, giày mới xỏ chân. Ong hành xử cuồng loạn trước mặt nó ! Liệu ông có mất trí khôn rồi không? Liệu ông có điên khùng không đấy ?

      Hơn nữa qúy vị tưởng tượng hạnh kiểm của người con lớn. Anh ta không rơì khỏi nhà, không hề trái lệnh cha, trung thành và chăm chỉ, lao động sớm tối ngoài cánh đồng, không những công việc của mình, mà còn của thằng em vắng mặt. Làm việc cực nhọc năm này qua năm khác mà cha anh không công nhận, không biểu dương, hay chí ít được một lời an ủi: “Tốt quá con à”. Hoặc một chiếc vỗ nhẹ vào lưng, tỏ lòng ưu ái cho thoả tình. Nhưng ông vắng mặt, vắng mặt để làm gì ? Để ngày ngày chạy lên đồi cao trứơc ngõ, ngóng trông thằng út hư hỏng ? Trời đất, còn bất công nào hơn ? Qúy vị tưởng tượng ở trong hoàn cảnh của người con lớn, quý vị sẽ nghĩ sao ? Quý vị có cảm thấy bất công và thương hại cho anh ta ? Hắn trung thành mà bị coi rẻ. Chắc chắn phản ứng của quý vị sẽ nổi giận bất bình: Như thế là không được, hoàn toàn vô lý, chẳng ai chịu đựng nổi.

      Nhiều người có quan điểm như vậy, nhất là trong giới trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm về trường đời. Họ muốn trắng là trắng, đen là đen trong vận hành công lý. Cũng không thiếu những nhân vật trưởng thành suy nghĩ như thế. Nhất là trong giới bảo thủ, cứng nhắc về lập trừơng luân lý, tôn giáo. Thí dụ các Pharisêu, thượng tế, luật sĩ và cả chúng ta nữa. Mặc dù đã được Chúa dạy bảo, đọc và nghe Lời Chúa hằng ngày. Thực ra nếu theo sát hoàn cảnh của dụ ngôn thì người con cả ám chỉ các lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ. Chúng ta cũng có vài nét Pharisêu trong nếp sống hằng ngày. Cũng như Pharisêu, luật sĩ, kinh sư, thượng tế, chúng ta chi ly tuân giữ lề luật Thiên Chúa, nhưng chỉ bề ngoài, không có tình yêu thúc đẩy bên trong.

      Nhưng xin nhớ, đây là dụ ngôn Chúa trả lời các người Do Thái chỉ trích Ngài là ăn nhậu và đón tiếp phường tội lỗi: “Các người thu thuế và các người tội lỗi, đều lui tới Đức Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy những người pharisêu và các kinh sư đều thì thầm với nhau: Ong này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Đức Giêsu mới kể cho họ nghe dụ ngôn: Người cha có hai người con trai. Như vậy mục tiêu của Chúa không phải là công lý mà là tình thương và ơn tha thứ. Thể hiện nơi hoàn cảnh của ngừơi con thứ. Liệu hắn có còn được hạnh phúc khi tình thế trở nên tồi tệ? Tiền hết, bơ vơ nơi đất lạ. Bất cứ chuyện chi xảy ra hắn đều gánh chịu hết: rét mướt, đói khát, lầm than, khinh bỉ. Công nhận là hắn đã phạm tội, ích kỷ, vô ơn và vô trách nhiệm. Nhưng hiện tại hắn phải trả giá đắt cho những lầm lỡ đó. Chăn heo là công việc bẩn thỉu nhất đối với người Do thái, bị người ta bóc lột đến tận xương tuỷ, mà không được kêu than. Nhưng hắn phải làm nếu còn muốn sống.

      Không phải là hắn không biết đến một kiểu sống khác. Chính miệng hắn đã thốt ra điều ấy: “Biết bao người làm công cho cha tôi được cơm dư gạo thừa, mà tôi đây thì lại bị chết đói”. Hắn ngộ ra mình đã làm điều lầm lỗi ghê gớm đối với gia đình, nhất là đối với người cha thân yêu, mà hắn biết rõ tấm lòng của ông. An hận, xấu hổ, tội lỗi nổi đậy trong lương tâm hắn. Hắn quyết định thoát ra khỏi cảnh hiện tại và trở về xin lỗi cha. Tuy nhiên việc trở về đâu phải dễ dàng gì, nó đòi hỏi lòng can đảm và khiêm tốn hết cỡ. Người ta đã nghi ngờ, nói gì, đồn thổi thế nào về hắn, hắn biết rõ. Chẳng phải chỉ đơn giản trở về nhà, hắn còn phải hứng chịu biết bao nhục nhã, cười chê. Nhưng có một phẩm chất lạ lùng trong lòng ăn năn hối hận của hắn. Hắn nhận ra mình đã phạm tội, không chỉ chống lại cha mà còn chống lại Đấng thiêng liêng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa, xin coi con như một đầy tớ của cha vậy”. Hắn hài lòng về vị trí đó.

      Nhưng ăn năn thống hối suông chưa đủ. Ơn thánh chẳng thể  mua bán với tình trạng như vậy. Đúng ra chẳng bao giờ ơn thánh có thể được đưa ra trả giá, bán buôn nơi loài người. Vì thế người cha phải bước tới và từ nét mặt của ông, người con thứ nhận ra tình yêu của cha mình. Hắn biết rằng hắn đã hành động đúng khi quyết định trở về nhà. Và mọi sự đều được thoả đáng. Đối với người cha không cần trách móc, hạch tội. Để mà làm chi, một khi đã là ơn huệ ? Điều đáng coi trọng là người con đã chết mà nay sống lại, đã mất nay tìm thấy ?

      Ai có thể mô tả được nỗi vui của người con thứ trong bữa tiệc mừng hôm ấy? Chúng ta thường phí uổng nhiều thời gian vào việc hối hận. Chúng ta thường ưa làm nô lệ cho tình cảm tội lỗi. Chỉ có một điều thực sự ý nghĩa khi chúng ta trót dại phạm tội, đó là chạy về với Thiên Chúa từ bi nhân hậu, đang chờ đón con mình để ban ơn. Thật dễ dàng cho chúng ta nhất là những kẻ tự phong thánh thiện, đồng hoá mình với người con cả. Xin cứ cho là như vậy đi, kẻo nhiều người tự ái? Nhưng cũng xin nhớ rằng có thể xảy ra là chúng ta tuân giữ mọi giới răn, lề luật nhưng vẫn xa cách Thiên Chúa, Đấng giàu lòng yêu thương. Mặt khác, ai có thể khoe mình không phạm tội? Chẳng hề bẻ gãy giới răn Thiên Chúa? Có bao giờ chúng ta bất trung? Có bao giờ hoang phí ơn lành của Chúa? Có bao giờ đáp trả trọn vẹn ơn gọi của Ngài? Cho nên dụ ngôn chỉ dẫn chúng ta con đường trở về nhà Cha. Nó dạy bảo chúng ta phải làm chi “Tôi sẽ chỗi dậy và trở về cùng cha tôi, nói với Ngài rằng thưa cha con thật đắc tội với Trời và với cha”.

      Và  một khi đã nghiệm ra ơn tha thứ và xót thương của Thiên Chúa, chúng ta thay đổi trái tim và nếp sống như bài đọc 1 tuyên bố: “Hôm nay Ta cất khỏi các ngươi cái ô nhục của người Aicập”. Chúng ta dùng của ăn thức uống mới trong đất hứa Canaan. Chúng ta lắng nghe thánh Phaolô khuyên nhủ trong bài đọc 2: “Thưa anh em, phàm ai ở trong đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi, mọi sự đều do bởi Ngài, và Ngài trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải”. Có đúng là trong dụ ngôn cả hai anh em đều nhận được đề nghị hoà giải của người cha? Người cha đã thân hành ra xin người con cả bước vào nhà ăn tiệc mừng: Mọi sự của cha đều là của con. Như vậy cả hai anh em đều được biến đổi. Người em không trở lại đường cũ nữa, và người anh cả vui vẻ bước vào dự tiệc. Hai anh em làm hoà với nhau qua trung gian và sự thúc đẩy của người cha.

      Dưới ánh sáng của dụ ngôn này, thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu, Thiên Chúa khởi sự hoà giải với nhân loại qua Đức Kitô. Chúng ta được đón nhận vào nhà Cha. Phúc Am không nói hai người con phản ứng ra sao trước tấm lòng của cha họ. Nhưng chúng ta biết phải làm chi trước tình yêu của Thiên Chúa. Trong bí tích rửa tội, chúng ta được giao hoà với Thiên Chúa và có đời sống mới, đời sống hoà giải. Không ai chối cải được chân lý ấy. Và thánh Phaolô truyền chúng ta phải là đại sứ của Thiên Chúa về hoà giải cho thế gian này: “Thật vậy, trong đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với mình. Ngài không chấp tội nhân loại nữa và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải”. Cho nên lời ấy phải là sứ điệp hoà giải của Thiên Chúa trong mỗi người tín hữu, nhất là linh mục, tu sĩ, hàng giáo phẩm. Chúng ta phải phản ánh thông điệp ấy cho thế gian trong tình hình cực kỳ khó khăn cay đắng như hiện nay. Những gì chúng ta làm, gương sáng chúng ta sống phải tỏ ra cho người khác điều Thiên Chúa đã làm cho chúng ta? Trong đức Kitô, cuộc sống của chúng ta phải phản ánh căn tính của mình là sứ giả của Đức Kitô. Đây là nhiệm vụ rất nặng nề. Ít khi chúng ta hoàn thành nếu không trung thành với Thiên Chúa. Giám mục Helder Camara thường nói: “Tôi luôn cầu nguyện cho người con cả trở lại”. Tai hại thay phẩm chất cứng đầu cứng cổ nơi chúng ta tồn tại mãi. Nó giết hại nhiều linh hồn kiêu căng, tự phong mình là hoàn hảo, thánh thiện, không cần hối cải, khinh khi kẻ khác, nhất là các tội nhân.

      Đại sứ hay sứ giả nói và làm thay cho quốc gia mình. Họ  được trao phó nhiệm vụ đại diện cho tổ quốc, các cấp lãnh đạo xứ mình nơi nước khác và chính phủ của họ. Như vậy chúng ta rất cần nhiều sứ giả đại diện cho Chúa Kitô trong tình hình thế giới hiện nay. Chúng ta cần được Thiên Chúa sai đi để hoà giải thế gian với Thiên Chúa và với nhau, chẳng phải về đàng thiêng liêng là đủ, cả về tình người và các nhu cầu khác của thế giới. Thánh Phaolô khuyên nhủ mọi tín hữu phải là nhân chứng hoà giải của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Mùa chay này, các giáo xứ đều tổ chức nhiều buổi sám hối gồm cả bí tích hoà giải. Trong ánh sáng Phúc Am hôm nay, chúng ta phải nghiêm chỉnh thực hành. Ơ ý nghĩa nào đó, chúng ta đều là người con hoang đàng. Tính chất hoang đàng luôn cố hữu trong mỗi cá nhân, cách này hay cách khác. Xin đừng kiêu căng phủ nhận. Cho nên mọi người đều cần đến ăn năn. Naaman cố chấp nói: Các con sông của Syria không tốt hơn sao? Nhưng chỉ có dòng nước của sông Jordan mới tẩy cho ông sạch bệnh phong cùi và trả lại da thịt ông tươi đẹp như đứa trẻ con. Ơn thánh của toà cáo giải còn mạnh mẽ hơn. Chúng ta hãy năng tắm gội trong dòng nước ấy để đựơc tha thứ và bình an. Chúa Giêsu nói với Phêrô: Nếu thầy không rửa chân cho anh, anh chẳng được dự phần với thầy. Bí tích rửa tội cho phép chúng ta dự phần vào sự sống của Đức Kitô. Chúng ta phải năng xưng tội để tẩy sạch linh hồn, ngõ hầu nhận lãnh sự sống của Chúa đầy đủ hơn qua Mình và Máu Thánh Ngài.

      Đức Giáo Hoàng Piô XII thường ca tụng bí tích hòa giải. Ngài nói : Nó mang lại khiêm tốn, tự biết mình, lướt thắng thói xấu, tẩy sạch lương tâm, ban ơn thánh và lớn lên trong đàng thiêng liêng. Đức thánh cha quên mất một điều: Phát triển tình yêu, lòng tha thứ và ơn hoà giải với mọi người. Lời tha thứ của bí tích hoà giải không phải là cầu xin mà là “Vậy tôi tha tội cho anh, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Một lời tuyên bố thẳng thắn, cho thấy lòng thương xót của Thiên Chúa. Cộng đồng chấp nhận và thực hành. Do đó cộng đồng trở thành sứ giả của Thiên Chúa về vấn đề này. Cộng đồng nhân danh Thiên Chúa nói tha thứ, hoà giải với hết mọi người, mọi dân tộc, quốc gia. Dụ ngôn hôm nay còn bỏ ngỏ, chưa có kết thúc, chưa rõ sự đáp trả của hai người con. Cho nên chúng ta phải hoàn thành nó bằng câu chuyện đời mình: Làm hoà với Thiên Chúa, với anh em và trở nên sứ giả về lòng Chúa xót thương. Lúc ấy mùa chay của chúng ta mới có ý nghĩa. Amen.

Lm. Jude Siciliano, OP.

+++++++++++++++++++++++++


Bức Tranh Hí Họa  

 

      Tự  do là giá trị cao cả nhất và vinh dự nhất cho sinh vật có lý trí trên mặt  đất này. Ðó là nền tảng xác định con người cao hơn vạn vật Ðó cũng là nguyên nhân sinh ra niềm vui lớn lao nhất cho con người. Nhưng cũng chính vì tự do, con người phải trả giá mắc nhất. Những gì đã và đang xảy ra tại Việt Nam chứng minh hùng hồn nhất.

      Ngày xưa, các thánh tử đạo Việt Nam đã lấy mạng sống để chứng minh cho mọi người thấy tự do tôn giáo là một giá trị cao cả nhất và linh thiêng nhất của quyền làm người. Ngày nay, con cháu các ngài lại phải trải qua một kinh nghiệm gần giống cha ông, nhưng ở một chiều kích tinh vi hơn. Tự do trở thành một thứ chiêu bài và công cụ cho đủ mọi thứ thao túng. Việc đập phá tượng Pieta và trù dập phong trào dân chủ vừa qua là một điển hình !

      Nhiều người sống bên Mỹ cũng không có cái nhìn khá  hơn về tự do. Họ tung hoành trong mọi ngành nghề. Doanh nhân tự do trốn thuế. Người già tự  do lợi dụng Medicare, Medicade, An sinh xã hội v.v. Giới trẻ tự do sống buông thả tình dục, nghiện hút, băng đảng v.v.

      Ðây là một dịp tìm hiểu ý nghĩa tự do đích thực.

      Biểu tượng nổi nhất của tự do buông thả là  người con thứ trong dụ ngôn hôm nay. Sau bao năm thơ ấu sống êm ả trong gia đình, cậu sống khá ngoan ngoãn. Chẳng ai thấy cậu có vấn đề gì. Bỗng một hôm, cậu thẳng thắn xin cha chia gia tài (x. Lc 15:12). Ai ngờ cậu đã ấp ủ trong lòng một giấc mơ “tự do” từ bao giờ ! Cậu nhắm đến một chân trời xa thật xa. Xa như giấc mộng dài cậu đang thêu dệt. phương tiện ăn chơi là gia tài kếch sù cậu vừa đón nhận. Khả năng là tuổi trẻ đầy sinh lực. Còn gì tự do hơn !

      Nhưng “đời lắm lúc không bằng mộng” ! Vừa lúc anh cháy túi, một nạn đói khủng khiếp ập tới. Họa vô đơn chí ! Giấc mộng còn dài và tuổi trẻ còn sung cũng đành chào thua thời cuộc. Hoàn cảnh quá bức bách. Anh không còn phương tiện để sống còn. Chân anh không đứng vững trên mặt đất nữa ! Tất cả vũ trụ quay cuồng và đảo ngược. Tất cả đều bế tắc. Anh bị dồn vào chân tường. Chỉ còn một lối thoát duy nhất là đổi danh dự lấy mạng sống. Trước kia, anh là người chỉ tay năm ngón. Bây giờ, anh phải cúi đầu trước lệnh truyền ra đồng chăn heo. Giấc mơ bây giờ xuống thấp đến nỗi anh không bằng con heo nữa. Anh sống mà như chết. Tất cả nhân phẩm đã tiêu tan !

      Chính tự do đã dẫn anh vào cõi chết ! Người cha cũng đã khẳng định như thế : (x. Lc 15:24, 32). Ðó không phải là tự do đích thực. Anh tưởng tự do là muốn làm gì thì làm. Không phải trả  giá cho tự do. Thực tế, anh đã phải trả  giá quá đắt cho một chọn lựa sai lầm. Khi bị dồn vào đường cùng, anh mới nhận ra đâu là nơi để anh thực hiện tất cả giấc mộng tuổi trẻ. Ðâu mới là tự do đích thực.

      Dĩ  nhiên, không phải chỉ những người hư hỏng, mà  cả những người con ngoan cũng chưa chắc hiểu tự  do là gì. Khung cảnh và hình thức không đủ bảo đảm cho con người có nhận thức đích thực về tự do. Ngay ở trong nhà, người con cả có biết tự do là gì đâu. Anh đã phục vụ với một mục đích hoàn toàn tầm thường vật chất. Anh tự nhốt trong chính mình. Dù được chia gia tài như người em, nhưng anh cũng chẳng biết làm gì với vốn liếng đó. Có lẽ sau khi được chia gia tài, anh đã đem trả lại hết cho cha, hầu được tiếng là con ngoan. Anh vẫn tỏ ra mình “ngon” hơn cậu em. Tới khi thấy cách thân phụ đối xử ngon lành với người em mạt rệp ấy, anh mới thấy lòng khoan dung không đúng với sự công bình ngoài thực tế. Lúc đó, anh mới nói hết sự thật cho bõ ghét ! Anh chưa từng nhỏ rãi trước mùi cám heo như cậu em. Thế nên, anh vẫn thấy những ưu đãi vật chất trong gia đình là chuyện đương nhiên.

      Thà  một lần đi hoang để biết thế nào là giá  trị của tự do, còn hơn “cù lần”  như người anh cả tự nhốt mình trong tháp ngà ! Nhưng nếu có một tấm lòng như thân phụ, anh cũng có thể cảm nhận tất cả chiều kích và đường nét tươi đẹp của tự do. Tiếc thay những lời khuyên của thân phụ không đủ sức thuyết phục bằng thực tế ngoài đời dạy cho người con thứ. Tâm hồn anh cả đã khép lại ! Dù cố gắng dùng cả lý lẽ lẫn tình cảm, người cha cũng phải đầu hàng. Anh không thể hiểu và hưởng được niềm vui của tự do đích thực !

      Ðúng thế ! Tự do đích thực bao giờ cũng đem lại niềm vui và chân trời rộng mở. Chắc chắn những gì nói với con cả, người cha cũng bộc lộ cho con thứ : “Tất cả những gì của cha đều là của con.” (Lc 15:31) Trong khi người con cả thờ ơ, thì người con thứ như uống từng lời cha vào tận đáy lòng. Lời đó như một tia nắng ấm chiếu sâu vào tận đêm trường giá lạnh của lòng anh. Anh sung sướng vô cùng. Từ nay anh mới thực sự là con người tự do. Có bao giờ anh nghe ai có những lời nói và cử chỉ thân thương như thế trong suốt hành trình xa nhà ? Nhất là khi anh bị vùi dập ngoài chuồng heo, anh đã cảm nghiệm tất cả nỗi nhục nhã và đau khổ của kiếp nô lệ như thế nào ! Anh không được đối xử bằng con vật. Phải xuống tận bùn đen như thế, anh mới thấy quý những gì mình đã tìm lại được nơi nhà cha. Tất cả đều do tình yêu hải hà của người cha nhân ái. Thế mà, trước đây anh đã cắt đứt. Chỉ vì tự do tuổi trẻ, anh đành coi cha như đã chết, để đòi chia gia tài cho bằng được !

      Dưới mắt người con cả, cha đã phung phí tình yêu một cách dại dột. Làm sao cha biết người em thứ sẽ không bỏ nhà ra đi một lần nữa ? Ngựa quen đường cũ, cha không biết hay sao ?! Cha đã quá thương nên không lường trước tương lai. Cha đã mất khôn khi không còn xét xử theo những nguyên tắc công bình con người như thấy trong lề luật nữa. Cái nhìn của những người Pharisêu về Thiên Chúa y hệt như vậy ! Nhưng công lý của Thiên Chúa có bộ mặt hoàn toàn khác. Công lý Thiên Chúa xây dựng trên một tình yêu vô điều kiện và khôn lường.

      Dụ  ngôn cho thấy tất cả chiều kích vô biên đó của tình yêu ấy, khi người con thứ trở về. Tình yêu ấy đã có sức phục sinh người con thứ và đem lại niềm vui thực sự cho anh. Từ nay anh sẽ sống nhờ tình yêu ấy hơn bất cứ thứ nào khác. Không có tình yêu ấy, anh sẽ biến mất khỏi mái ấm và sẽ ra đi vào một miền vô định. Giả sử anh trở về quá trễ, lúc cha anh không còn, số phận anh sẽ ra sao ? Rất may, anh trở về lúc còn cha trong nhà. Tình yêu người cha đã sáp nhập anh vào một cuộc sống gia đình cách tự nhiên. Cũng tình yêu đó đã không thể cảm hóa người con cả để anh chấp nhận cuộc hiệp thông lớn lao do cha đề nghị. Có tin yêu, người cha mới hết lòng mời mọc như vậy. Nhưng người con cả đã thẳng thừng từ chối. Anh mới là tên nô lệ cho chính mình.

      Bức tranh hí họa đã trình bày hình ảnh độc đáo về tình yêu người cha giữa hai người con. Bức thứ nhất diễn tả về Thiên Chúa nhân lành đến nỗi bị lợi dụng như thể Người mắc nợ chúng ta, còn chúng ta chẳng mắc nợ gì Người, ngay cả việc nhận biết Người. Trái với quan niệm thường tình về Thiên Chúa như một nhà độc tài không hề biết nhượng bộ, dụ ngôn đã mô tả hình ảnh cực kỳ tốt đẹp về người cha hạnh phúc khi thấy con trở về với mình. Phải, đó là Tin mừng trong Chúa nhật này. Hãy đón nhận niềm vui tha thứ, niềm vui giao ước được canh tân trong bí tích Thánh Thể, niềm vui tín thác, niềm vui thông hiệp. Tất cả niềm vui này đều phát xuất từ Chúa Cha, nhờ Con Chí Ái Người là Ðức Giêsu. Từ đó chúng ta hướng về niềm vui Phục Sinh.

      Nhìn chung, tự do đã trở thành điểm ranh giữa hai người con. Ban đầu người con thứ đi tìm một thứ tự do vô trách nhiệm. Nhưng thực tế đã dạy cho anh một bài học “để đời.” Nhờ thế, anh mới thấu hiểu phải trả giá rất mắc cho một giá trị lớn lao và cao cả nhất của con người, đó là tự do. Còn người anh cả chỉ biết bổn phận mà không biết đến tự do. Tình yêu luôn có khả năng giải thoát. Không có tình yêu, không thể có tự do và hiệp thông. Người anh cả “vẫn đi bên cạnh cuộc đời,” mà không hiểu được niềm vui của tình yêu chia sẻ. Bởi vậy, anh mới có quan niệm quá khắt khe về lỗi lầm của người em. Anh đã xây dựng một nền công lý trên lề luật, chứ không trên tình yêu. Không bao giờ có một sự bình an cho những con người như anh. Hòa bình không thể xuất hiện khi con người không biết tha thứ. Ơn cứu độ cũng vắng bóng khi con người không biết nhìn nhận Thiên Chúa là Cha và tha nhân là anh em.

      Phải  đợi tới khi nào Ðức Giêsu Kitô xuất hiện, con người mới thấy tất cả tương quan lớn lao trong trời  đất. Từng bị hạ xuống bùn đen, nên Người có thể hiểu biết và đánh giá được tất cả ý nghĩa của tự do hơn ai hết. Hơn nữa, “chính để chúng ta được tự do, mà Ðức Kitô đã giải thoát chúng ta.” (Gl 5:1) Ðức Kitô cũng là người Anh Cả giữa đoàn em đông đúc (Rm 8:29) là chúng ta. Nhưng hoàn toàn khác với người anh cả trong dụ ngôn hôm nay, không những Ðức Kitô không ghen tương, mà mời gọi chúng ta đi vào cuộc hiệp thông với Cha Người. Hơn nữa, Người còn lấy chính Mình Máu Người để làm tiệc thết đãi chúng ta. Vì Người đầy lòng yêu thương, quảng đại, tha thứ. Khác với người con thứ, Người không cần phải mất một thời gian đi hoang, Người mới có thể đánh giá đúng mức giá trị của tự do. Người cũng không cần phải đợi Cha nhắc nhở mới biết mình được tự do hưởng mọi quyền lợi trong Nhà Cha. Thật vậy, chính Người quả quyết : “Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thày.” (Ga 16:1 5) Khác hẳn với hai người con trong dụ ngôn đầy khuyết điểm, Ðức Giêsu thật là Con Chí Ái, hoàn toàn làm hài lòng Chúa Cha (x. Mt 3:17; Mc 1:11). Bởi thế, Chúa Cha mới căn dặn chúng ta: “Hãy vâng nghe lời Người !” (Lc 9:35) Ðức Mẹ cũng phụ họa : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” (Ga 2:5)

      Tại sao phải nghe lời và làm theo Ðức Giêsu ? Nếu không muốn trả giá quá mắc vì lầm lạc theo những đam mê như người con thứ hay tấm lòng chật hẹp như người con cả, chúng ta cần vâng nghe Con Chí Ái của Chúa Cha. Chỉ có Người mới  mở cho chúng ta bầu trời tự do đích thực, tự do làm con cái Chúa. Khác với tự do đi hoang đã hạ giá người con thứ xuống dưới hàng con vật, tự do của Chúa nâng chúng ta cao hơn địa vị con người, để trở thành con cái Chúa. Thật là một giá trị tuyệt vời !

      Bức tranh hí họa cuối cùng không diễn tả cảnh trái ngược giữa hai người con trong dụ ngôn, nhưng giữa họ và Người Con Chí Ái của Chúa Cha. Con thứ hiểu lầm về tự do, nhưng lại là cơ hội cho thấy tình yêu Thiên Chúa đầy bao dung. Con cả ngộ nhận về công lý. Từ đó, mới thấy công lý đích thực phải đặt nền tảng trên tình yêu. Cả hai người con ấy đều không thể phản ánh hình ảnh người cha nhân hậu. Trái lại, Ðức Giêsu là “hình ảnh Thiên Chúa vô hình,” (Cl 1:15) một hình ảnh cực tả Thiên Chúa là Cha.

      Tin tưởng vào mãnh lực tình yêu Thiên Chúa, bao chứng nhân đã lên đường tranh đấu cho công lý và hòa bình. Chẳng hạn, năm 2002 tại Nam Hàn, Nữ tu Cho Seong-ae đã được Quốc Hội Nam Hàn trao tặng Huân Chương Cao Quý Quốc Gia Nam Hàn. Quyết định trao tặng huân chương của Quốc Hội Nam Hàn nhìn nhận rằng "Người nữ tu này đã góp phần biến nhà tù không còn là nơi trừng phạt nhưng là môi trường thuận lợi cho việc cải hóa và quay về với những điều lương hảo." Hội Đồng Giám Mục Nam Hàn cho biết trong 25 năm phục vụ trong các khám đường, nữ tu Cho Seong-ae đã dẫn dắt 760 phạm nhân tiếp nhận đức tin Công Giáo, chưa kể số thân nhân của họ. Con số này rất đáng kể, vì ngoài việc giúp đỡ về phần thiêng liêng, nữ tu Cho Seong-ae còn giúp đỡ rất nhiều cho gia đình các phạm nhân trong thời gian họ chịu giam cầm trong lao lý. Nữ tu Cho Seong-ae luôn cố gắng tìm kiếm công ăn việc làm cho các gia đình để các phạm nhân yên tâm cải huấn. [1]

      Tiếp tục truyền thống tranh đấu cho công bình xã hội, ngày 07/03/2007 vừa qua, khoảng 300 nữ tu Công Giáo Nam Hàn tham gia cuộc biểu tình khổng lồ, ước lượng khoảng 74,000 người, tại Hán Thành nhằm chống lại cuộc thảo luận về mậu dịch tự do giữa Nam Hàn và Hoa Kỳ. Các nữ tu cho biết họ quan ngại cho số phận những nông gia Nam Hàn và đời sống công nhân các xí nghiệp trong nhiều ngành kỹ nghệ tại quốc gia này. [2]

      Rõ  ràng các Nữ tu không còn phải là những người chỉ biết đọc kinh dâng lễ trong nhà thờ. Tình yêu Chúa thôi thúc họ xuống đường tranh đấu cho cuộc sống con người. Họ đi tìm một nền công lý xây dựng trên tình thương. Biết bao người đã tìm được con đường về Nhà Cha nhờ những chứng từ lớn lao này !

      Còn các Nữ tu Việt Nam đang quan tâm tới cái gì và  đang làm gì ?!

      Lạy Chúa, xin cho con cảm nhận tình thương bao la của Chúa, để con có thể thông cảm với tha nhân và cùng mọi người xây dựng một nền công lý trên sức mạnh tình yêu, chứ không trên bạo lực. Amen.

--------

[1] Fides 22.07.2002

[2] VietCatholicNews 11/03/2007

đỗ lực op

+++++++++++++++++++++++++

 

Người con đi hoang trở về

Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết, mà nay sống lại, đã mất, mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,32)

1.                Ra đi phạm tội

Người cha kia có hai đứa con trai: đứa anh tử tế, đứa em ngang tàng.

Vợ ông chết đã lâu, nên ông rất thương hai đứa con, nhất là đứa con út.

Một tối kia, ông ngồi bóp trán suy nghĩ. Ông lo sợ cho tương lai đứa con út giờ đây đang đi chơi khuya chưa về. Bỗng ông nghe những tiếng chân đang bước về phía mình. Đó là tiếng chân của đứa con út. Nó ngang tàng đi thẳng tới ông và xẵng xái nói:

- “Con không thích ở nhà nữa. Con muốn đi ra khỏi chỗ nầy. Xin cha hãy chia gia tài cho con”.

 Người cha buồn rầu nói:

- “Mẹ con đã chết, bỏ cha một mình. Giờ đây con lại nhẩn tâm để cha sống cô độc sao?”

Đứa con út mĩm cười:

Mặc kệ cha! Cha phải cho con phần gia tài để con đi. Ngày mai con đi”.

Người cha khóc. Ông biết đứa con của mình đã hư hỏng. Tối hôm đó, ông không ngủ được.

Sáng mai, người cha phân chia gia tài cho đứa con ngỗ nghịch. Đứa con lạnh lùng lãnh phần gia tài. Nó sung sướng nghĩ đến những thú vui nó được hưởng với bạn bè. Nó không thèm chào từ giã cha nó. Cha nó ứa nước mắt nhìn theo nó và nói: “Con ơi, khi nào con muốn, con hãy về với cha. Cha luôn sẵn sàng đợi chờ con”. Nhưng đứa con ngỗ nghịch đã biến khuất ở cuối đường.

2.                Quyết trở về lại.

Đứa con út trẩy đi phương xa.

Với tiền bạc sẵn có, nó tự do ăn chơi, tiêu xài phung phí không tiếc tay. Những ngày đầu là những ngày đầy thơ mộng. Nhưng rồi túi tiền cạn sạch. Ở nơi chốn lạ quê người, nó bị bỏ rơi. Áo rách, không tiền vá; đói bụng, không bánh ăn.

Ác thay, nạn đói ác liệt lại nổi lên trong miền đó. Nó phải đi chăn heo ngoài đồng. Đói quá, nó định múc lấy đồ của heo để ăn, nhưng ông chủ đập nó, vì sợ hết của heo ăn. Nó quá buồn tủi! Và trong cơn sầu buồn da diết đó, một hình ảnh đáng yêu nổi lên trong đầu nó: người cha đáng yêu mà mình đã bỏ để ra đi. Nó nghĩ đến cha nó: “Ôi, nhà cha ta có biết bao nhiêu người làm thuê có đủ cơm bánh dư dật, thế mà ta phải chết đói ở đây sao? Không, ta không ở đây nữa. Ta sẽ trở về nhà cha ta”.

Sau khi suy nghĩ như vậy, đứa con hoang đàng cảm động quỳ xuống, chắp hai tay lại, ngước mắt nhìn lên trời, cầu nguyện: “Lạy cha, con đã phạm tội đến trời, con đã có lỗi với cha, con không đáng được gọi là con của cha nữa”. Và anh ta gục đầu xuống, khóc thảm thiết.

Đứng dậy, anh ta ra đi, bỏ nơi xa lạ, trở về nhà cha.

Trên đường về quê, anh ta phải đi ngang qua những khu rừng hẻo lánh. Trong cảnh âm u tịch mịch, dưới những cây to lớn, thỉnh thoảng anh ta dừng lại, cố nhớ rõ trong trí những tội lỗi đã làm tan nát trái tim cha mình. Anh ta nhất định khi trở về gặp cha, sẽ thú tất cả tội lỗi với người cha thân ái. Và anh ta đau đớn lặp đi lặp lại: “Cha ôi! Cha tốt lành quá! Con thật xấu xa độc ác. Giờ đây, tâm hồn con quá đau đớn. Xin cha tha tội cho con”.

3.                Được cha đợi chờ và nồng nhiệt tiếp đón.

Chiều nào, khách bộ hành cũng thấy một ông lão đứng ngoài đường, trông về phía xa. Gặp ai đi xa về, ông cũng chận lại hỏi:

- “Ông đi xa về, bà đi xa về, có gặp thằng út của tôi ở đâu không? Nó ra đi biệt tăm đã lâu. Tôi nhớ nó quá! Ai gặp nó, cho tôi nhắn lời thăm chút”.

Khách đi xa về, lắc đầu.

Màn đêm buông xuống. Người cha lững thững quay gót trở về, lòng nhớ mãi đứa con yêu dấu giờ đây không biết ở phương nào.

Bỗng một chiều kia, khi che bàn tay lên đôi mắt để nhìn về phía xa, người cha run lên vì sung sướng:

- “Kìa, con tôi đang trở về. Ôi, con yêu dấu của cha ơi, cha chỉ mong được sống đến giây phút nầy”.

Rồi như được một sức mạnh phi thường thúc đẩy, ông chạy đến ôm chầm đứa con hồi lâu, quên tất cả những bội bạc của đứa con bất hiếu, và cũng quên rằng con mình đang mặc quần áo rách rưới, tóc tai bù xù, mặt mày hốc hác vì đói khát và đầy những bụi lấm.

Trước cử chỉ đó, người con hoang đàng khóc nức nở, khóc vì hổ thẹn, nhưng cũng khóc vì sung sướng. Nó muốn cúi xuống ôm hôn chân người cha để tỏ dấu ăn năn, nhưng không thể được vì cha nó ôm cứng nó trong lòng. Nó liền nhìn vào mặt người cha và ấp úng nói:

“Lạy cha, con đã phạm tội đến Trời, con đã phạm lỗi với cha. Con không còn đáng được gọi là con của cha nữa. Xin cha hãy xem con như một tên đầy tớ trong nhà mà thôi. Con muốn đền tội con”.

4.                Người cha vui mừng

Người cha bịt miệng con lại, không cho con nói. Ông giục con mau về nhà. Lúc về tới nhà, những tên đầy tớ trong nhà cười nhạo đứa con rách nát, nhưng người cha nghiêm nghị nói:

- “Hãy mau lấy bộ áo đẹp nhất ra đây để con ta mặc. Hãy đưa nhẫn cho con ta đeo. Hãy mang giày đến cho con ta xỏ. Hãy bắt con bê béo làm tiệc ăn mừng, vì con ta đã trở về. Con ta, ta tưởng đã chết, nay sống lại. Con ta, ta tưởng đã lạc mất, nay được tìm thấy”.

5.                 Thiên Chúa là Cha. Ngài rất yêu thương chúng ta là con cái của Ngài. Khi phạm tội, chúng ta là những đứa con hoang đàng, bỏ Chúa để chạy theo ma quỷ, xác thịt, thế gian. Nhưng than ôi, sau một thời gian tự do bay nhảy, phóng túng, chúng ta chán chường, buồn phiền và thất vọng.

Khi chúng ta lạm dụng sự tự do Chúa ban để sống tội lỗi, chúng ta ngây thơ nghĩ rằng mình được sung sướng hạnh phúc, nhưng chúng ta sẽ chóng thất vọng buồn phiền. Rồi cùng với thời gian, lương tâm chúng ta sẽ bị giày vò vì dằn vặt, ưu tư và tủi hận.

Không có Chúa là Cha yêu thương chúng ta, cuộc đời chúng ta sẽ trống rỗng, đen tối và buồn phiền. Không có Chúa, con người chúng ta không thể tạo nỗi cho mình một cuộc sống thăng bằng, phong phú và hạnh phúc được.

Khi trở về với Chúa, người tội lỗi quyết từ bỏ nếp sống hoang đàng xấu xa của mình. Họ quyết không để cho ma quỷ, xác thịt, thế gian lôi cuốn và gạt gẫm họ đến chỗ hư mất nữa. Họ quyết điều khiển linh hồn và thân xác của mình theo con đường các giới răn của Chúa dạy. Họ hy sinh hãm mình bên trong và bên ngoài. Họ sống đời cầu nguyện sốt sắng, vì họ biết ơn Chúa là hết sức cần thiết để giúp họ đứng vững và tiến bước trên con đường nhân đức thánh thiện. Họ luôn tìm cách treo cao gương tốt trước mặt mọi người để cuộc sống hiện tại của họ làm sáng danh Chúa và đền tội cho cuộc sống quá khứ của họ đã làm ố danh Chúa. Lúc đó, họ mới chính là người tội lỗi thành thực ăn năn hối cải và trở về với Chúa.

Mỗi người chúng ta phải hiểu rằng Thiên Chúa không phải là một quan án nghiêm khắc, không phải là một vị vua độc tài và độc ác, nhưng Thiên Chúa là đấng chăn chiên lành (ngài luôn luôn đi tìm con chiên lạc, và khi gặp nó trong bụi gai, ngài tìm cách vác nó trên vai, sung sướng đem về nhà); Thiên Chúa như người đàn bà kia đánh rơi mất đồng tiền (người đàn bà thắp đèn đi tìm mọi góc xó trong nhà, và khi tìm được thì báo tin vui cho mọi người biết); và nhất là Thiên Chúa như một người Cha nhân hậu (sau bao ngày buồn rầu vì đứa con ngỗ nghịch ra đi biệt tăm, nay lòng tràn trề vui sướng khi thấy bóng dáng người con ngỗ nghịch từ xa trở về).

Thiên Chúa luôn mở rộng cánh tay bao dung để chờ đón con người tội lỗi ăn năn trở về với ngài.

Tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người tội lỗi chúng ta là thế đó: là mong đợi, là tiếp đón, là vui mừng, là tha thứ khi con người tội lỗi trở về gặp lại Ngài là Chúa tình thương của họ, là Cha yêu thương của họ.

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

 

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay17
mod_vvisit_counterTất cả418408

Giờ lễ

Website Công Giáo

Tìm kiếm

.: Trang tin của Tổng Giáo Phận Huế - Phụ trách: LM. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang :.
Địa chỉ: 69 Phan Đình Phùng - Huế - Việt Nam - Tel: 84.54.3831967

Email: tonggiaophanhue@gmail.com hoặc envgioang@gmail.com - Website: http://tonggiaophanhue.net

Copyright © 2009 TRANG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ. All Rights Reserved.