Lễ Truyền tin – vài suy niệm Lời Chúa

In

                           Lễ Truyền Tin: Đức Gioan Phao lồ II nói với chúng ta về Đức Mẹ Maria

                                                   Người nữ tỳ trung tín của Thiên Chúa

1.Những lời của Đức Bà Maria trong giờ Truyền Tin: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38) nói lên thái độ đặc biệt về lòng mộ đạo của người Do Thái. Môisen, trong buổi đầu của Giao Ước Xưa, đã đáp lại lời gọi của Chúa, xưng là người tôi tớ (Ex 4,10; 14,31). Từ khởi đầu của Giao Ước Mới, Đức Bà Maria cũng đáp lại lời gọi của Chúa bằng một cử chỉ tự do vâng phục và tự giác phú dâng theo thánh ý Chúa, bày tỏ sự sẵn sàng trở thành “nữ tỳ của Chúa”.

Trong Cựu Ước, tính chất “người tôi tớ” của Chúa tập họp lại những ai được gọi để thực hành sứ mệnh chăn dắt dân Chúa chọn: Abraham (Gn 26, 24), Isaac (Gn 24,14), Jacob (Ex 32,13; Es 37,25), Josué (Jos 24,29), David (2S 7,8, v.v.). Các đấng tiên tri và những thầy cả, mà Chúa đã giao cho trọng trách tập họp dân chúng trung thành thờ phượng Chúa, đều là những người tôi tớ. Sách Tiên tri Isaie ca tụng sự tuân phục của “Người Tôi Tớ khổ đau”, một gương mẫu trung tín với Chúa trong niềm hy vọng chuộc tội cho thiên hạ (Is 42,53). Còn có nhiều phụ nữ cũng nêu lên những gương mẫu về lòng trung tín, như Hoàng Hậu Esther, trước khi đi cầu xin cứu vớt dân Do Thái, đã dâng lên Chúa lời cầu khẩn nhiều lần bày tỏ là “người nữ tôi tớ của Chúa” (Est 4,17).

2. Đức Bà Maria, người đàn bà “đầy ơn phúc”, xưng là “nữ tỳ của Chúa”, đã tự hiến dâng chính mình, một cách hoàn hảo, trong công việc mà Chúa chờ mong cho toàn thể dân chúng. Những lời: “Tôi là nữ tỳ của Chúa” báo trước Đấng sẽ nói về Chính mình: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10,45; Mt 20,28). Chúa Thánh Thần cũng thực hiện giữa Đức Mẹ và Chúa Con, với sự sắp đặt hài hòa trong nội tâm, điêù này giúp cho Đức Bà Maria đảm trách hoàn hảo vai trò người mẹ của Chúa Giêsu, đồng hành cùng Chúa trong sứ mệnh của “Nguời Tôi Tớ”.

Trong cuộc đời của Chúa Giêsu, ý hướng muốn phục vụ luôn kiên trì và kỳ lạ: là Con của Thiên Chúa, thực vậy, Chúa có quyền để ngưới khác phục vụ mình. Khi nhận lãnh tước vị “Con Người”, sự việc này sách Daniel xác nhận: “mọi dân tộc, mọi quốc gia và ngôn ngữ phải phụng sự Ngài” (Dn 7,14) và Chúa có quyền chế ngự tất cả mọi người. Trái lại, để đánh đỗ tinh thần của thời đại bây giờ, mà các môn đệ của Chúa dã ước vọng là có một vai trò ở hàng đầu (Mc 9,34) và phản kháng của Phêrô khi Chúa cúi xuồng rửa chân cho môn đệ (Jn 13,6), Chúa Giêsu không muốn được phục vụ, nhưng muốn phục vụ cho đến việc ban cho tất cả sự sống của mình trong công cuộc cứu chuộc.

3. Khi Thiên Sứ báo tin, Đức Bà Maria, nhận biết một vinh dự thật cao cả được Chúa trao ban, nên tự nhiên bột phát nói “người nữ tỳ của Chúa”. Trong sự ưng thuận phục vụ, trong đó gồm có việc phục vụ tha nhân, và điều đó nói lên trong mối liên hệ qua giai đoạn Truyền Tin và Viếng Thăm: được Thiên sứ báo là bà Elizabeth đang chờ sinh con, Đức Bà Maria vội vã lên đường đến Judea với bà Elizabeth (Lc 1, 39) để phụ giúp người bà con trong lúc sinh sản, đã tỏ ra sẵn sàng phục vụ. Đức Bà Maria nêu gương cho người Kitô hữu thuộc mọi thời đại một gương mẫu cao cả trong việc phục vụ.

Những lời: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời thiên sứ truyền” (Lc 1, 38), lời của người thốt ra là nữ tỳ của Chúa chứng tỏ một sự vâng phục tuyệt đối vào thánh ý Chúa. Danh từ “genoito” “xin cứ làm cho tôi” mà Luca dùng, không chỉ bày tỏ sự ưng thuận mà còn nhận lấy trách nhiệm được giao phó về kế hoạch của Chúa, công việc mà Đức Bà Maria sẽ thực hiện với tất cả khả năng của chính mình.

4. Để cho phù hợp với thánh ý Chúa, Đức Bà Maria dự đoán và xem như chính cho mình thái độ của Chúa Kitô, mà trong Thư gởi cho người Do Thái, khi vào trần gian, Chúa Kitô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể... Và bây giờ con mới thưa: này con đây, con đến để thực thi thánh ý của Chúa”. (He 10, 5-7; Ps 40/39, 7-9)

Sự vâng phục của Đức Bà Maria loan truyền và báo trước sự vâng phục của Chúa Kitô trong đời sống công khai và cho đến tận Đồi Calvê. Chúa Kitô nói: “ Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Jn 4, 35). Cũng như vậy, Đức Bà Maria đã thực hành ý muốn của Đức Chúa Cha là nguồn cảm hứng cho cuộc sống, tìm kiếm trong mình sức mạnh cần thiết để hoàn thành sự mệnh đã được giao phó.

Nếu trong giây phút Truyền Tin, Đức Bà Maria chưa biết đến sự hy tế trong sứ mệnh của Chúa Kitô, lời tiên tri của Syméon đã cho Đức Bà Maria thấy định mệnh bi thảm của Chúa Con (Lc 2, 34-35), mà Đức Trinh Nữ đã nhận thức được trong thâm tâm của mình. Trong sự vâng phục tuyệt đối vào thánh ý Chúa, Đức Bà Maria sẵn sàng sống trong tình yêu của Chúa đã hoạch định cho cuộc sống của mình với “lưởi dòng đâm thâu qua tâm hồn của mình”.

(Trích từ báo L'Observatore Romano)

Phó Tế Huỳnh Mai Trác dịch

VietCatholic News (25/03/2006)

++++++++++++++++++++

LỄ TruyỀn Tin

Đức Cha Germain

          Chính tổng lãnh thiên thần Gabriel đã loan báo cho Đức Maria Mầu Nhiệm Nhập Thể. Khi các phụ nữ đến mộ của Chúa Kitô để tìm kiếm Ngài, thì cũng chính thiên thần Gabriel đã loan báo biến cố phục sinh và dặn dò: “Đừng tìm kiếm Ngài, Ngài không có ở đây, Ngài chờ đợi anh em ở Galilê.” Qua hai sự kiện này, ta thấy có một sự thống nhất lạ lùng trong mầu nhiệm. Tôi cầu mong sao cho Lễ Truyền Tin năm nay sinh lợi cho tất cả anh chị em. Muốn như thế, tôi mời gọi anh chị em nhìn ở mọi góc cạnh, vì nếu nhìn vào chính giữa thì Mầu Nhiệm sẽ vượt khỏi trí khôn chúng ta, nhưng nếu nhìn ở các đường viền chung quanh thì mình lại cảm nhận được mầu nhiệm ấy.

Đức Maria là nhân vật duy nhất mà trong Phúc Âm Chúa Kitô đã gọi là “Người Nữ” (viết bằng chữ hoa). Ngài đã tặng Đức Maria hai lần danh hiệu này, Ngài không gọi Bà là Mẹ hay Maria, ngài gọi là Người Nữ. Chẳng hạn tại tiệc cưới Cana, Ngài nói: “Người Nữ ơi, Người muốn tôi làm gì?” và trên Thập Giá, Ngài đưa tay về hướng tông đồ Gioan mà nói với Bà: “Người Nữ ơi, đây là con của Người!” Chưa bao giờ người nói với một người nam mà bảo rằng “Người Nam ơi!” nhưng Ngài đã nói như thế với một Người Nữ, và chỉ với một người duy nhất, ấy là Đức Maria. Điều này cho thấy rằng danh hiệu Người Nữ đã được chu toàn, được hoàn tất trong Đức Maria.

Điều gì đã được hoàn tất trong Đức Maria khiến Mẹ được viên mãn đến như thế? Chính Mẹ là người đã cưu mang trong lòng mình và sinh ra cho đời một vị Thiên Chúa, một điều chưa từng xảy ra trên vũ trụ này. Vai trò người nữ, hay đúng hơn vai trò duy nhất của người nữ, ấy là sinh hạ, là cho ra đời. Tất cả chúng ta đều thông qua cung lòng của một người mẹ. Đức Mẹ là tuyệt tác của toàn thể nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Thiên Chúa đã chọn Mẹ, đã đoái nhìn đến Mẹ, không phải vì Mẹ có một công trạng gì đặc biệt, nhưng vì Mẹ hội tụ toàn bộ tinh thần của nhân loại cũng như tất cả mọi nỗ lực tác sinh một thọ tạo cao vời và độc nhất vô nhị.

Ta hãy nhớ lại điều này: Sau khi tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đến cạnh con người mà đề nghị: “Nếu ngươi muốn, Ta đề nghị ngươi yêu mến Ta. Và nếu ngươi yêu mến trong sự thật, chẳng hạn yêu mến thế giới dưới kia, toàn bộ thế giới với thú vật, cây cỏ, đất đai; nếu ngươi thực hiện điều đó, thì Ta sẽ yêu mến ngươi và ban cho người sự sống của chính Ta.” Như vậy, khi ta trở thành Kitô hữu, thì Thiên Chúa cũng đề nghị: “Nếu con muốn, Cha sẽ trở thành người bạn chí thiết của con, nghĩa là Cha sẽ sinh ra để đón nhận sự sống giống con. Cha là đấn dựng nên con, thế nhưng Cha sẽ trở nên một người giữa mọi con người.” Lời đề nghị của Đấng Tạo Dựng hầu như là một nghịch lý: Người không tông cửa mà vào. Đấy là điều mà ta gọi là Sự Công Bình của Thiên Chúa. Công bình chính là tôn trọng bằng mọi giá sự tự do của Hữu Thể, sự tự do của con người: Người đến để ‘xin phép’ và cánh cửa đã mở ra đến cho Thiên Chúa đến với loài người. Cánh cửa cuối cùng được mở ra, chính là Đức Maria, và Thiên Chúa đã đi vào cung lòng Mẹ.

Đức Maria từng ở trong Đền Thờ, và Mẹ biết rất rõ về các thiên thần. Vì thế, điều làm Mẹ ngạc nhiên không phải là thiên thần Gabriel xuất hiện, nhưng mà là điều sứ thần nói, sau đó là lời đáp trả của Mẹ: “Xin vâng, vì tôi là tôi tá của Chúa.”

Xin dừng lại đây một phút: tôi không hiểu là trong cuộc đời của chính anh chị em, có bao giờ anh chị em cảm thấy rằng con người của mình, cuộc sống của mình là một ngục tù không. Chúng ta bị trói chặt vì hoàn cảnh, nghề nghiệp, một loại biến cố, thậm chí vì linh hồn mình. Chưa thời đại nào mà lại có nhiều người bị khủng hoảng âu lo, bị suy nhược thần kinh như thời đại chúng ta. Vì sao như vậy? Bởi vì người ta đã xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi nền văn minh của mình từ bốn thế kỷ qua. Vì thế, khi chúng ta đang ở trong ngục tù đó mà có thể thốt lên từ cõi lòng mình: “Lạy Chúa, Xin Hãy Đến!” thì Người sẽ đến! Và lúc ấy, giống như Đức Mẹ, chúng ta làm câm miệng cách suy nghĩ, những ưu tư lo lắng của mình mà tìm hiểu cách thức mà Vị Thiên Chúa ấy suy nghĩ và hành động. Đấy là điều mà Đức Maria đã làm để mở cánh cửa cuối cùng. Thiên thần Gabriel bảo rằng: “Cô sẽ thọ thai,” nhưng làm thế nào một trinh nữ có thể thọ thai mà không cần đến người nam? Đức Maria đã nêu lên lời chất vấn duy nhất để xác nhận rằng điều bất khả ấy sẽ trở thành hiện thực. “Tôi sẽ sinh con, nhưng tôi không liên hệ gì với người nam!”  

Tất cả chúng ta đều có thể làm như thế đối với Thiên Chúa theo cách thức mà Người thể hiện đối với chúng ta, nghĩa là Người sẽ mặc khải cho chúng ta một hình thức bất khả, và cái bất khả xuất hiện trước mắt chúng ta và thường đi trước những thắc mắc của chúng ta. Những thắc mắc ấy rồi sẽ được giải quyết, bởi vì nếu ta tự do hiến dâng cho Chúa thì Người sẽ tự do đem đến giải pháp. Đấy là điều cao cả nơi Đức Mẹ. Đấy là một dạng tự do trọn vẹn của một người biết ngắm nhìn và lắng nghe chính tác giả của tự do và hai hữu thể gặp nhau để đem lại hoa trái tự sự gặp gỡ đó. Đức Mẹ là Đấng tổng hợp trời và đất, và những tương quan giữa trời và đất. Chính vì thế mà Mẹ trở thành một nhân vật có sự quyền năng phi thường.

Tất cả chúng ta hãy trở thành những con người tự do, và qua đó làm vinh danh Thiên Chúa cho đến thiên thu vạn đại. Amen.

+++++++++++++

LÀM THEO Ý CHÚA

Sắp đến lễ Truyền Tin. Khi cử hành lễ trọng này, các chủ tế thường giảng về lời Đức Mẹ "xin vâng", cộng đoàn cũng hay đồng ca lời "xin vâng" của Đức Mẹ.

Đến nay, lời "xin vâng" của Đức Mẹ trong biến cố truyền tin đã trở thành một gương mẫu "Sống Lời Chúa" cho nhiều tín hữu tại Việt Nam ta.

Nhận xét này báo cho chúng ta một tin vui. Để góp phần nhỏ vào tin vui này, tôi xin phép được chia sẻ kinh nghiệm về cách sống "xin vâng". Tất nhiên chia sẻ này sẽ rất giới hạn. Nó được diễn tả như một hành trình. Hành trình này có những chặng như sau:

1/ Nhận thức về bổn phận "phải làm theo ý Chúa"

"Xin vâng" không phải là nói theo công thức đạo đức, mà là một lời hứa sẽ làm theo ý Chúa.

Chúa Giêsu phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: 'Lạy Chúa, lạy Chúa' là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21).

"Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành" (Mt 7,24-27).

Lời Chúa trên đây dạy ta phải chú trọng đến thực hành. Đừng xin vâng như một lễ nghi. Nghe rồi, nói rồi, hứa rồi, là kể như xong. Xin vâng kiểu đó chỉ là một cách giữ đạo hình thức. Kết quả sẽ rất tai hại. Phải đặt trong lời xin vâng một quyết tâm làm theo ý Chúa. Làm thực sự, làm đến nơi đến chốn.

2/ Nhận thức mình yếu đuối, tội lỗi, tối tăm

Quyết tâm làm theo ý Chúa là điều khởi đầu không được thiếu. Nhưng liền sau quyết tâm đó sẽ không phải là động lực tự phụ, tự đắc. Nhưng là một nhận thức khiêm nhường về bản thân mình.

Nhận thức khiêm nhường đó có thể diễn tả như lời tự thú của thánh Phaolô xưa: "Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại làm... Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Chúa. Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể của tôi. Tôi thực là người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 7,15-26).

Lời tự thú trên đây của thánh Phaolô là một sự thực sống động. Mỗi người trong chúng ta đều đã và đang cảm nghiệm sự thực đó nơi bản thân mình.

Cảm nghiệm này cần được ta nói lên với Chúa một cách khiêm nhường. Riêng tôi, hằng giờ và từng phút, tôi vẫn nhìn lên Chúa, với tấm lòng của trẻ thơ yếu đuối, rất xác tín lời Chúa phán xưa: "Không có Cha, chúng con không thể làm gì được" (Ga 15,5). Tôi không thể làm được điều gì tốt, nhưng lại rất có thể làm được nhiều điều không tốt trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Nhất là những thiếu sót thì vô số kể.

Nhận thức mình yếu đuối, hèn hạ, tối tăm sẽ không là một cái nhìn bi quan bệnh hoạn, nhưng sẽ là một cái nhìn đúng sự thực, lành mạnh, đưa tới một nhìn nhận mang tính cách cứu độ.

3/ Nhìn nhận mình cần đón nhận Chúa và ở trong Chúa cứu độ

Chúa Giêsu phán: "Thầy là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Thầy, thì không ở lại trong bóng tối" (Ga 12,48).

Tôi tin lời Chúa trên đây. Từ niềm tin ấy, tôi khao khát cầu xin Chúa đến với tôi. Đời tôi trở thành một thao thức đợi chờ. Đợi chờ một Thiên Chúa đang đến.

Khi Người đến, gặp thấy lòng con người thao thức về sự cứu độ, Người sẽ thương đốt lên trong lòng họ lửa tin mến nồng nàn. Họ sẽ được Người chia sẻ cho dần dần kế hoạch làm theo ý Chúa.

Họ sẽ làm. Chúa cũng sẽ làm với họ. Họ cảm nghiệm được một sự an ổn thiêng liêng. Cho dù nhiều lúc, họ không tránh được đau khổ. Nhất là khi họ thấy một lời Chúa phán xưa sẽ phải được thực hiện nơi họ: "Thật, Thầy bảo thật các con, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trơ một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24).

Cùng đi sâu vào con đường cứu độ, mà Chúa Giêsu đã đi, kẻ muốn làm theo ý Chúa càng cảm thấy cần phải gắn bó với Người. Gắn bó chặt chẽ và sống động như cành cây với thân cây. Như Chúa Giêsu đã quả quyết: "Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,5).

Từ kinh nghiệm ấy, sự luôn ở lại trong tình thương của Chúa trở thành một vấn đề bức xúc. Nó sẽ có liên hệ mật thiết với sự bình an, mà Chúa hứa ban riêng cho những ai làm theo ý Chúa. Như Chúa Giêsu đã hứa: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng" (Ga 14,27).

Ai đã được nếm sự bình an này, sẽ rất chân thành nhìn nhận: Khi mình làm theo ý Chúa, thì có sự bình an. Sự bình an mà mình được, hoàn toàn không do công phúc của mình, nhưng do Chúa ban cho mà thôi.

Chia sẻ trên đây chẳng có gì lạ. Tuy nhiên, hy vọng nó cũng được coi là một nhắn gởi của một người lớn tuổi, đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử rất phức tạp. Nhìn lại đời mình, tôi thấy: Chỉ có sự thao thức làm theo ý Chúa mới đáp lại được ơn gọi Chúa đã dành cho mình. Tôi nhìn lại với tâm tình cảm tạ và vô vàn thống hối ăn năn.

Hiện nay, chủ nghĩa cá nhân và thực dụng đang rất mạnh. Nó dụ dỗ những người tin Chúa hãy sống theo ý riêng mình, hãy đua đòi làm theo ý thế gian. Tình hình này rất nguy hiểm cho tương lai đạo đức Phúc Âm.

Vì thế, lời "xin vâng" của Đức Mẹ nên được coi là một nhắn gởi tha thiết. Rất mong các môn đệ Chúa hãy đón nhận, để suốt đời mình sẽ là một dòng thiện chí tuyệt đối phó thác làm theo ý Chúa, mặc dù ý Chúa thường rất khác ý thế gian và ý riêng ta.

+ GM GB Bùi Tuần

VietCatholic News (14/03/2006)

++++++++++++++++++

XIN VÂNG

Nói đến Mẹ Maria, người ta nghĩ ngay đến hai tiếng XIN VÂNG.

Tiếng XIN VÂNG hay tiếng FIAT là một tiếng phiêu lưu, mạo hiểm, táo bạo. Nó ám chỉ một sự liều lĩnh và đòi hỏi một sự can đảm. Nó có nghĩa là từ bỏ mọi sự lại đằng sau  để tiến về đằng trước. Bỏ lại phía sau những cái mà chúng ta đang có chắc trong tay và mạo hiểm về một tương lai mà chúng ta hoàn toàn không biết. Chúng ta phải bỏ lại những người thân yêu, những tập tục quen thuộc, những ham mê, những sở thích quí mến để ra đi về một phương trời vô định với một hành trang trống rỗng và một tương lai mù mịt.

Để nói lên tiếng XIN VÂNG như thế, thật không phải là dễ. Và đau khổ biết bao khi phải nói lên lời giã biệt trước giờ phút chia ly. Đó là lý do tại sao đã khiến cho bao giòng nước mắt phải tuôn trào trước giờ phút ly biệt.

Từ bỏ trong ý nghĩa đó có nghĩa là phải cắt đi một phần của cái tôi đã gắn chặt với những gì mình đã yêu thích. Quả thật, không phải dễ để chúng ta nói lên lời giã biệt đối với những gì mình đang tận hưởng. Điều đó giúp chúng ta hiểu được lý do tại sao con người thường co rút lại trước việc phải từ bỏ cái quá khứ của họ.

Trong cựu ước, mẫu mực của mọi tiếng gọi niềm tin, mẫu mực có một ấn tượng sâu xa nhất của lịch sử con người về niềm tin, những trang sử xúc động nhất của sự chiến đấu anh hùng của con người trong việc đối thoại với Thiên Chúa, đó là câu chuyện của Abraham. Thiên Chúa nói với Abraham:”Hãy bỏ quê hương, gia đình và nhà cửa đi đến đất Ta sẽ chỉ cho”.{Gen.12:1-3}

Đây là mầu nhiệm của tiếng gọi Thiên Chúa, mầu nhiệm của ơn gọi mỗi người chúng ta. Nó xảy đến trong sự tối tăm của niềm tin và mọi lý luận của con người thì bất lực để thấu hiểu.

Trước những biến cố trọng đại, Thiên Chúa thường muốn những tạo vật của Ngài phải trải qua những sự thử thách.

Nếu chỉ có địa đàng, con người sẽ không có tự do. Nếu chỉ có một con đường đi về nhà Cha, chúng ta sẽ cảm thấy bị lợi dụng. Trong sa mạc hãi hùng của cuộc lựa chọn, chúng ta có cả hai lối: một về Đất Hứa và một trở về Ai Cập. Có cả tốt  lẫn xấu chúng ta phải chọn lựa. Không có sự trốn thoát vì tình yêu của Thiên Chúa đòi chúng ta phải đáp trả. Thiên Chúa cho chúng ta có đủ thời gian để lựa chọn và đáp trả. Một khi đã đáp trả, đó là quyết định cuối cùng.

Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin cho Mẹ Maria, chúng ta thấy gì nơi Mẹ trước tiếng gọi niềm tin.

Chín tầng trời gần như xôn xao đang hồi hộp chờ đón tiếng đáp lời của Mẹ, bỡi tiếng đáp lời của Mẹ có ảnh hưởng lớn lao đến chương trình vĩ đại của Thiên Chúa và cũng ảnh hưởng lớn lao đến một tương lai hãi hùng của Mẹ.

Để giúp chúng ta hiểu được tương lai hãi hùng của mẹ thế nào khi mẹ đã liều mình một cách táo bạo đáp tiếng XIN VÂNG thì đây tôi xin kể cho anh chị em một câu chuyện thật sau đây.

Trong chuyến du hành sang đất thánh, khi tham dự thánh lễ đồng tế ở Đền Thờ Đức Me Truyền Tin tôi đã được nghe cha chủ tế kể cho nghe câu chuyện nầy trong bài thuyết giảng của ngài:   

Tôi (Carlo Carretto) đã từng có dịp sống trong sa mạc Sahara với tinh thần của dòng Tiểu đệ Charles de Foucauld. Bấy giờ tôi kiếm sống bằng cách làm việc như một nhà khí tượng học trong vùng nầy. Tôi thích công việc đó không chỉ vì nó cung cấp tho tôi lương thực mà còn vì nó cho tôi cơ hội để sống trong chính nơi tôi thích chọn là sa mạc, mà ở đó tôi có thể kết hợp bổn phận hằng ngày và lời cầu nguyện lâu dài của tôi với sự im lặng vĩ đại của thiên nhiên.

Trong thời gian đó, không bao lâu, tôi quen biết những người Tuaregs và tôi đặc biệt thích thổ dân nầy. Họ sống trong những túp lều dựng dọc theo bờ hồ. Trong những buổi chiều sau khi làm công tác xong, tôi thường đến thăm họ. Suốt thời gian gặp gỡ nầy, tôi để ý đến một sự kiện rất là hấp dẫn.

Thật tình cờ, tôi khám phá ra một cô gái trong căn trại mà bấy giờ tôi quen biết, đã đính hôn với một chàng trai trong một căn trại khác, nhưng cô ta chưa đi sống chung với chàng vì chàng ta còn quá trẻ.

Sau đó, vì một công tác khác tôi phải lìa xa sa mạc Sahara hai năm. Hai năm sau, tôi trở lại căn trại đó và đang tìm một đề tài để nói chuyện. Tôi chợt nhớ lại câu chuyện tình của cô nàng ấy nên muốn hỏi thăm về cuộc hôn nhân ấy đã xảy ra thế nào rồi? Bấy giờ, có một cái nhìn bối rối hiện ra trên nét mặt của người tôi đang nói chuyện và họ im lặng, một sự im lặng đáng buồn và khó hiểu. Rồi người ấy nhìn chung quanh một cách ý tứ, ông ta đưa tay lên cổ trong một cử chỉ đặc biệt của người Ả rập khi họ muốn nói có người đã bị cắt cổ.

Lý do thế nào?

Vì trước đám cưới, người ta khám phá ra là cô gái ấy đã có thai và vì danh dự của gia đình nên đã đòi hỏi sự hy sinh nầy theo tập tục của họ.

Một sự rùng rợn đã tỏa lan trong xương sống tôi khi nghĩ ra rằng người con gái ấy đã bị chặt đầu vì đã không trung thành với người chồng tương lai của chị.

Câu chuyện rùng rợn ấy có một cái gì giống câu chuyện của Mẹ Maria và thánh cả Giuse. Kinh thánh đã ghi: Mẹ Maria đã đính hôn với Giuse, nhưng trước khi về chung sống với nhau, được khám phá ra là đã có thai. Dẫu cho Giuse không tố cáo Maria, chỉ có ý định âm thầm bỏ đi. Nhưng đối với Maria, vấn đề không phải là đơn giản như chúng ta thường nghĩ, nhất là đối với tập tục khắc khe của người Do Thái lúc bấy giờ.

        Hãy hỏi thử những cô gái Á Đông không chồng mà chửa, tâm trạng của họ thế nào khi bác sĩ cho biết rằng họ đang có thai. Chắc chắn là xấu hổ và lo sợ. Lo sợ vì không biết phải ăn nói thế nào đây với những người chung quanh và nhất là đối với những người thân yêu trong gia đình. Rồi đây, không bao lâu nữa người ta sẽ nhìn thấy tác phẩm trong bụng mình đang lớn dần và nó sẽ gây nên sự chú ý cho biết bao nhiêu con mắt tò mò của những người trong xóm làng.

Đó cũng là tâm trạng của Mẹ Maria lúc bấy giờ. Trả lời thế nào đây với những người chung quanh mà Mẹ đang sống với, nhất là với vị lang quân mà mẹ sắp cưới.

Trả lời: Thiên chúa là tác giả của đứa bé ấy sao ? Và ai sẽ tin Mẹ ?

Hãy tưởng tượng nếu có một cô gái đến nhà chúng ta và nói: Tôi bảo đảm với ông bà rằng đứa bé mà tôi đang mang thai là con của Đấng Tối Cao. Thử hỏi ai sẽ tin nàng mà không thốt lên những lời chê bai và nguyền rủa. Và nếu đó là con cháu của chúng ta thì rất có thể chúng ta sẽ tặng ngay cho nàng một tát tai và sẽ đưa nàng đi ngay đến nhà thương điên.

Thế mới biết Mẹ Maria thật can đảm biết bao khi Mẹ đáp lại lời sứ thần với tiếng XIN VÂNG.

Hỡi Maria, Mẹ đã hiểu gì khi thiên thần nói với Mẹ rằng: Mẹ là người đã được chọn để làm Mẹ Đấng Cứu Thế ?

Và Mẹ sẽ đáp trả cho chúng ta: Tôi cũng thấy trước tất cả những hiểu lầm sẽ có, vì làm cách nào tôi có thể cắt nghĩa được những điều lạ lùng nầy cho mẹ tôi, cho cha tôi, và nhất là cho vị hôn phu sắp cưới của tôi. Nhưng tôi cũng thấy trong tôi có một sức mạnh phi thường đến từ Thiên Chúa, và thêm vào đó là sức mạnh của lời thuyết phục của sứ thần Gabriel:

Đối với Thiên Chúa không có gì là không có thể. Đối với Thiên Chúa không có gì là không có thể.        

Và rồi, với tâm trạng thật bất ngờ, hồi hộp và đầy lo sợ, Mẹ maria tiếp tục chia xẻ:

Sau đó, tôi thấy mẹ tôi đi bách bộ ở ngoài sân, tôi muốn chạy đến để tâm sự với mẹ tôi tất cả những gì vừa xảy ra cho tôi, nhưng tôi lại không dám nói vì tôi không biết phải làm cách nào để giải thích cho mẹ tôi. Vì thế, từ dạo ấy trở đi tôi càng trở nên trầm tư và thinh lặng.

Thế rồi, sau một vài tháng tôi không thể nào dấu nổi tác phẩm trong bụng tôi nữa. Trước mặt mọi người, mọi sự đã trở nên rõ ràng và phức tạp. Bấy giờ tôi càng hiểu rõ hơn: Bản chất của đức tin chính là sự mù mịt và đau khổ. Và đó chính là thời kỳ đau khổ nhất của đời tôi. Niềm yên ủi duy nhất của tôi lúc bấy giờ chính là việc lập đi lập lại lời sứ thần đã nói: Không có gì là không có thể với Thiên Chúa. Không có gì là không có thể với Thiên Chúa. 

Và quả thật, mọi sự đều có thể với Thiên Chúa vì chính Ngài đã cắt nghĩa điều đó cho Giuse trong giấc mộng.

Bấy giờ, Mẹ Maria mới hiểu ra rằng đây mới chính thật là bản chất của niềm tin.

Vâng, một cô thôn nữ nghèo hèn đơn sơ, một cô thôn nữ kiều diễm đoan trang, dễ thương dễ mến, nhưng Chúa đã muốn một sự khởi đầu không mấy tốt đẹp chút nào cho đời Mẹ, một sự khởi đầu với đầy nước mắt và đau thương.

Chiều hôm nay, nhìn lên cung thánh, tôi thấy Mẹ Maria không như một bà hoàng sang trọng, uy nghi và diễm lệ như những ngày trước nữa, nhưng là một người mẹ, một người chị, một người bạn đồng hành cũng đã từng trải qua những gian lao và thử thách trong đức tin trên cuộc hành trình về quê trời.

Trong ngày lễ Truyền Tin năm nay, chắc chúng ta có nhiều điều muốn thưa với Mẹ. Nếu chúng ta muốn xin gì với Mẹ, hãy ngước nhìn lên Mẹ và đừng xin gì khác cả. Đừng xin cho căn bệnh chúng ta được chữa lành. Cũng đừng xin cho chúng ta được thêm nhiều danh lợi. Nhưng hãy xin với Mẹ điều nầy và chỉ một điều nầy thôi, đó là xin Mẹ hãy cầu nguyện cho lòng tin của chúng ta. Chỉ có món quà đó mới xứng đáng với lời cầu của Mẹ mà thôi.     

lm.levanquang

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

.: Trang tin của Tổng Giáo Phận Huế - Phụ trách: LM. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang :.
Địa chỉ: 69 Phan Đình Phùng - Huế - Việt Nam - Tel: 84.54.3831967

Email: tonggiaophanhue@gmail.com hoặc envgioang@gmail.com - Website: http://tonggiaophanhue.net

Copyright © 2009 TRANG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ. All Rights Reserved.