SƠ LƯỢC ĐÔI NÉT VỀ GIÁO HẠT QUẢNG BÌNH (Bài 7)
( từ 1875 – 1940 )
+ Năm 1910: (Đức Cha Allys)
Cho đến hôm nay, ít nữa từ khoảng 10 năm nay, hầu như mọi cuộc trở lại Đạo của lương dân đều được thực hiện tại Huế và Quảng Trị; tỉnh Quảng Bình, sau những ngày đẹp đẽ trổ sinh những mùa lúa chín dồi dào, đã bị “inimicus homo” (kẻ thù) tàn phá đến nỗi mỗi năm, phải vất vả mới gặt hái được khoảng chục cuộc trở lại.
Hiện nay, mọi sự có vẻ thay đổi bộ mặt và năm nay, giáo hạt Quảng Bình đã có niềm vui ghi được 333 cuộc rửa tội tân tòng. Nhưng có thể nói niềm vui còn bị hạn chế ở một vài chỗ, vì ngoài 5 hoặc 6 cuộc rửa tội đây đó, các cuộc rửa tội khác đều là công trình của 3 cha mà thôi. Cha Darbon có các cha phó giúp đỡ là cha Laurence và cha Chiếu đã rửa tội 229 người; cha Neyer 30 và cha Vân 66 người. Nhưng cuối cùng, đã có đà tiến và dầu trở ngại đủ thứ mọc lên từ mọi phía, xem ra có lý do để hy vọng các cuộc trở lại sẽ ngày càng nhiều hơn trong phần tốt đẹp này của Miền Truyền Giáo. Đó chính là ao ước nồng nhiệt nhất, của các anh em thừa sai và các linh mục bản xứ làm việc trong giáo hạt này, nơi các cuộc bách hại và đốt phá năm 1885 và 1886 đã để lại những dấu tích mà hơn 20 năm cố gắng vừa qua, vẫn chưa làm khuất dạng.
Một trong những họ đạo đã chịu nhiều thử thách nhất, là họ Mỹ Phước, hiện nay do cha Phẩm quản trị. Họ đạo này đã mất cha sở và hơn ba phần tư giáo dân. Đại Phong là họ nhánh của Mỹ Phước, trước các cuộc bách hại, có 288 kitô hữu; sau khi các băng loạn quân đi qua, nay chỉ còn 101. Xuân Hội, họ nhánh khác của Mỹ Phước, đã mất đi một nửa số giáo dân. Các nhà cửa và nhà thờ chỉ còn lại những đống gạch vụn tro tàn. Khi hoà bình được tái lập , mọi sự đều phải làm lại nơi những họ đạo khốn khổ này; và chính đó là công việc khó nhọc mà các thừa sai và linh mục bản xứ tiếp nối nhau tận tuỵ lo lắng trong họ đạo này. Các nỗ lực của họ không vô ích, vì hiện nay, thay vì 161 kitô hữu đã thoát chết, người ta đếm được 383 có chỗ cư trú vững vàng như trước các cuộc bách hại.
Các giáo xứ Mỹ Duyệt, Mỹ Định và Phú Việt cũng đã chịu đau khổ nhiều. Bởi vì, nếu một cuộc chạy trốn đúng lúc, làm cho quân sát nhân chỉ giết hại được một số tương đối nhỏ các kitô hữu, thì tất cả các nhà thờ và mọi nhà cửa đều đã bị lửa thiêu rụi hoàn toàn.Chính cha Izarn, Rault và Neyer luân phiên nhau lo tái thiết các họ đạo này. Các ngài đặt hết lòng hết trí vào công việc này; các ngài đã không tiếc lao nhọc tiền của để tái lập mọi sự, không chỉ về mặt vật chất, nhưng nhất là về mặt tinh thần; và khi lo xây dựng lại các thánh đường và nhà cửa, các ngài cũng đã cố sức bù đắp những khoảng trống trong hàng ngũ kitô hữu bằng những cuộc trở lại của lương dân.
Các nỗ lực của các ngài đạt được những phần thưởng đầy thành quả tốt đẹp và thay vì 3 họ đạo đã có vào lúc dấy loạn, nay có được 11 họ đạo. Sự tăng triển này buộc phải phân giáo xứ này ra: cha Neyer phụ trách Mỹ Duyệt và 8 họ đạo mới; còn Mỹ Định và Phú Việt đã được trao phó cho cha Henrion, chính ngài cũng muốn liên kết các người mới theo Đạo với các kitô hữu của các ngài. Nhưng cho đến hôm nay, ngài vẫn không thể bắt chuyện với các làng lớn chung quanh nơi ngài ở. Ngài cảm thấy đau lòng về việc này, cũng như việc con số giáo dân của ngài ngày càng giảm sút.
Tựa lưng vào những động cát bao la, nơi chỉ thấy mọc rải rác vài cây xương rồng và những chùm cỏ dại, các làng Mỹ Định và Phú Việt có phía trước mặt những đồng ruộng tốt rộng lớn, chỉ cách biệt bởi con đường cái quan. Thấy vị trí tuyệt đẹp này, người ta tưởng mình đang ở giữa một vùng đất không chỉ màu mỡ, nhưng cũng rất trong lành, điều này lại xa với thực tế; từ nhiều năm nay, các làng này hoàn toàn bị ô nhiễm; không thể nói tuyệt đối điều đó từ đâu đến, người ta chỉ thấy rằng dân cư bị một bệnh sốt thật hiểm độc và dai dẳng, làm cho một số lớn người dân, nhất là giữa những người nghèo khổ, phải ngã gục hằng năm. Tình trạng này càng khổ não vì các họ đạo này trước đây rất phồn thịnh.
Ở không xa các họ đạo này, có giáo xứ Mỹ Hương do cha Vân quản trị: đây là quê hương của Chân phước Năm . Mặc dầu ở trong một vị trí xem ra không khác với nơi các họ đạo của cha Henrion, làng Mỹ Hương vẫn trong lành và cư dân công giáo không hề bị giảm đi, nhưng đã tăng triển cách đáng kể từ khoảng 20 năm nay. Phần đông dân cư của họ đạo này làm nghề nuôi tằm và nghề đúc, hai nghề nghiệp, nếu không phải làm cho họ giàu có, thì cũng không cản trở họ cần mẫn chu toàn các bổn phận đạo đức.
Chúng tôi thấy ở Trung Quán ít sốt sắng hơn, Trung Quán là họ nhánh của Mỹ Hương và là nơi sinh quán của Chân phước Thiện, học trò của Chân phước Jaccard và là bạn đồng tử đạo của ngài. Trước đây, làng này toàn tân tòng; nhưng khổ thay, các chức sắc trong làng có học và rất tự cao về việc cho rằng mình có học thức. Vì thế, khi thời kỳ bách hại đẫm máu mở ra tại Việt Nam, tất cả các người có bằng cấp đó đã không làm gì khác hơn là vội vàng thuần phục các quan lại và tuyên bố rằng cả làng của mình đã bỏ Đạo. Sau cuộc thử thách khắc nghiệt đó, phần đông dân Trung Quán đều tiếp tục đem con đi rửa tội.Tuy nhiên ảnh hưởng bất lợi từ các vị chức sắc chối đạo này ngày càng thấy rõ và đã xảy đến trong một thời gian, bất cứ linh mục nào cũng không thể đặt chân lên vùng đất đó.
Chỉ đến khoảng năm 1878, chúng tôi mới có thể trở lại trong làng này, nơi hầu như mọi người đã được rửa tội, nhưng hầu như không ai giữ Đạo. Chỉ Thiên Chúa nhân lành mới biết được cha Matthieu và cha Guillot phải đau khổ biết bao để cư trú nơi đây. Ngôi nhà đầu tiên các cha đã mua, liền bị đốt cháy vài ngày sau khi đã trả tiền và hầu như chắc chắn là do người chủ đã bán nó.
Nhưng những khó khăn này, tôi gọi là vật chất, chẳng là gì bên cạnh những khó khăn phải vượt lên để đưa về lại với việc thực hành đạo đức những người dân đáng thương sau một thời gian đã đồng loã ít nhiều với các người chối Đạo và thường xuyên tham dự vào các việc dị đoan.
Vào thời các cuộc bách hại năm 1885, nhà thờ, nhà ở của các thừa sai, mọi nơi cư ngụ của những ai đã thật lòng trở lại và của tất cả những người đã từ chối việc chối bỏ đức tin, đều bị tàn phá cách không thương tiếc, đến nỗi khoảng năm 1887, khi cha Bonin đến thăm viếng họ đạo này, chỉ thấy những đổ nát, buồn nhất là về mặt tinh thần. Hiện nay, Trung Quán có 287 kitô hữu với lòng đạo đức đáng cho người ta rất ao ước.
Khác với Trung Quán, giáo xứ Tam Toà có 4 họ nhánh gồm 1169 tín hữu, tu viện các nữ tu (Mến Thánh Giá Tam Toà), 4007 lượt xưng tội và 9001 lượt rước lễ. Giáo xứ này hiện nay là thủ phủ của giáo hạt Quảng Bình và tương đối mới được thiết lập, vì chỉ có từ năm 1886. Chính cha Bonin lập nên để quy tụ những giáo dân của giáo xứ Sáo Bùn cũ hoàn toàn bị loạn quân phá huỷ, trước đây chật hẹp và không thuận lợi, ít bảo đảm an toàn cho những giáo dân mới thoát khỏi giáo mác của những kẻ sát nhân...
Giáo xứ Tam Toà sở hữu một mảnh đất gần thành Đồng Hới, bên bờ một dòng sông tuyệt đẹp, cách biển khoảng 1.500 mét. Vào năm 1903, số giáo dân là 302, nay lên tới 644. Tất cả các thừa sai chăm sóc giáo xứ này: cha Bonin, cha Bonnand, cha Chabanon và cha Bonhours (đã qua đời) đã góp phần xây dựng và phát triển giáo xứ. Dưới sự chỉ đạo của cha sở hiện nay là cha Darbon, được cha Laurence và cha Chiến giúp đỡ, người ta có thể chắc chắn rằng giáo xứ Tam Toà càng tiến bước thì càng nên tốt đẹp hơn để cho về mọi mặt. Tam Toà sẽ là thủ phủ của giáo hạt Quảng Bình. Ước gì Chân Phước Borie và các vị Chân Phước khác đã hái được cành lá vạn tuế tử đạo dưới chân các tường thành Đồng Hới, không xa Tam Toà bao nhiêu, giúp cho giáo xứ này đạt được một lòng sốt sắng và một sự lan rộng ngày càng lớn hơn và ban cho chúng ta niềm an ủi thấy được sự trở lại của nhiều người trong các vùng lân cận xưa kia đã từ bỏ Đạo Chúa.
Đi lên phía Bắc, cách Tam Toà khoảng 15 cây số, người ta gặp được hai giáo xứ tốt lành, là Kẻ Sen và Kẻ Bàng. Hầu như gồm hoàn toàn những kitô hữu đạo gốc, các giáo xứ này đã chịu đựng những cuộc bách hại của Minh Mạng và Tự Đức mà vẫn không suy yếu, và chính nơi này, Đức Cha Sohier đã tìm được một nơi nương náu khi các cuộc đàn áp quá khắc nghiệt và dữ dằn đã do chính quyền thực hiện, vào lúc Tourane (Đà Nẵng) bị dội bom và Sài Gòn bị đô đốc Rigault de Genouilly đánh chiếm. Thế nên, vị giám mục đáng kính đã có một tình ưu ái đặc biệt đối với các giáo xứ này, dầu bên ngoài có vẻ hơi khô khan, nhưng bên trong là cả một trái tim vàng và một người trong họ đã chịu đòn vọt hơn là phản bội vị giám mục mà mình được mang tên. Sự gắn bó với Đạo và với vị giám mục của họ đã có được phần thưởng. Ngược với mọi mong đợi, chính giữa họ, vào năm 1876, Đức Cha Gađara (Sohier) đã trút hơi thở cuối cùng và an nghỉ trong nhà thờ Kẻ Sen đợi ngày sống lại mãi mãi.
Nhưng nếu các kitô hữu Kẻ Sen và Kẻ Bàng đều vững vàng trong đức tin, thì họ có phần hơi khác nhau trong cách giữ Đạo. Các giáo dân Kẻ Sen, nhìn chung, trung thành với việc đọc kinh sáng tối, họ không bỏ lễ Chúa Nhật cũng như các ngày lễ, và trung thành giữ mùa Phục Sinh. Nhưng về việc thường xuyên đến toà giải tội và rước lễ, ít nữa nhiều lần trong năm, thì họ còn chưa hiểu được lợi ích, và nhất là sự cần thiết. Phần đông các giáo dân tốt lành này xem ra còn sống như vào thời bách hại, lúc vì những khó khăn để gặp cho được một linh mục, họ đã lấy làm hạnh phúc được xưng tội một năm một lần. Ước mong sao nhờ việc dạy dỗ của cha Lavabre; và nhờ những khích lệ cổ vũ của ngài, họ sẽ tiếp tục không chỉ là những kitô hữu vững vàng, nhưng sẽ trở thành những người con sốt sắng của Hội Thánh, điều mà từ đã lâu, giáo dân Kẻ Bàng đã sống. Bởi vì trong giáo xứ Kẻ Bàng này hiện do cha Thới quản trị, các giáo dân không chỉ xưng tội và rước lễ mùa Phục Sinh, nhưng trong năm, các việc xưng tội thường xuyên đạt đến trung bình mỗi người 4 lần.
Việc lãnh nhận thường xuyên các bí tích còn lớn hơn nhiều trong giáo xứ Kẻ Hạc do cha Cẩn phụ trách. Nhờ thường xuyên lãnh nhận các bí tích như thế mà các mối hận thù, tranh chấp và kiện cáo nhau trước kia hầu như không dứt, thì nay giảm bớt nhiều và hy vọng làm cho hoà bình hoà hợp ngự trị giữa những người theo tính tự nhiên, thích gây gỗ kiện tụng và hiếu thắng.
Tóm lại tất cả các họ đạo của giáo hạt Quảng Bình đều tốt lành, một vài giáo xứ sốt sắng. Tuy nhiên, nhìn chung, có thể nói các bí tích được lãnh nhận ở đây ít thường xuyên hơn trong các giáo hạt khác của Miền Truyền Giáo. Điều cũng thiếu ở Quảng Bình, đó là các cuộc trở lại của lương dân. Tuy nhiên, tôi cũng vui mừng để nhắc lại rằng năm nay, đã có đà tiến và xem ra có thể hy vọng rằng các cuộc rửa tội tân tòng sẽ ngày càng nhiều hơn với một tỉ lệ nào đó .
(Trích dịch từ nguyên bản Pháp ngữ “Các Báo Cáo Thường Niên của Các Vị Giám Mục Giáo Phận Huế gửi Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris từ 1872-1940” do Lê Thiện Sĩ sưu tập)
Linh Mục Stanislaô Nguyễn Đức Vệ
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
SƠ LƯỢC ĐÔI NÉT VỀ GIÁO HẠT QUẢNG BÌNH (Bài 8)
(từ 1875 – 1940)
+ Năm 1911: (Đức Cha Allys)
Tất cả các số khác cũng đều tăng thêm; chỉ có số các người dự tòng được rửa tội từ 2.285 trong năm mục vụ trước nay, giảm xuống còn 1930 vào cuối năm nay. Giáo hạt Quảng Bình có 99 người; giáo hạt Đất Đỏ 268, giáo hạt Dinh Cát 399, giáo hạt Bên Bộ 380 và giáo hạt Bên Thủy 784.
+ Năm 1912: (Đức Cha Allys)
Tôi lấy làm an ủi nhận thấy rằng về mặt lòng sốt sắng, hầu như mọi giáo xứ trong giáo hạt này đều tiến triển; nhưng trong phần phía Bắc, trong phần kéo dài từ Đồng Hới, tỉnh lỵ của Quảng Bình, đến sông Gianh, con sông phân chia miền truyền giáo Huế với miền Tây Đàng Ngoài (Tonkin méridional), phong trào trở lại có hơi thấy được trong các thôn xóm lương dân: giờ Chúa Quan Phòng đã định, xem ra chưa đến.
Cha Darbon trước đây trong nhiệm sở Linh Thuỷ, chỉ sống cho các dự tòng và tân tòng của ngài, giờ đây đau lòng vì không thể nhập vào trong các làng đẹp đẽ ở quanh giáo xứ Tam Toà. Ngài chỉ thoả mãn và thực sự hạnh phúc khi có được những người tân tòng ở Đức Phổ, Thuận Lý, Lý Nhơn v.v...
Cha Allo, một trong những người gần gũi nhất với ngài, mới ở Kẻ Bàng từ vài tháng này: có cha Lương trợ lực, hoàn toàn dấn thân để lo điều hành giáo xứ sốt sắng của ngài và tu viện nữ tu bản xứ (Mến Thánh Giá) ở đó.
Giáo xứ lâu đời và vững chắc là Kẻ Sen, nhờ sự thúc đẩy cương quyết của cha Lavabre, đã bỏ được một số tập tục giữ từ thời còn ít linh mục: nay họ tập quen đến gần với các bí tích. Số lượt xưng tội cao hơn nhiều so với các năm trước đây, và chắc chắn sẽ còn tăng thêm.
Chúng tôi kể qua các xứ Kẻ Hạc, do cha Tuế quản trị; Cù Lạc, Hà Lợi và Bùng do cha Micae Cẩm điều hành và đã có được 8 cuộc trở lại; Bồ Khê do cha Chức và Đá Mài do cha Huấn; và chúng tôi đến nơi cha Henrion là người đã có được những thành quả tốt đẹp nhất trong năm mục vụ này. Cha Tuế với cha phó trợ giúp, đã rửa tội 145 dự tòng trong hai làng Thạch Xá và Xuân Hoà. Để đạt được điều đó, ngài đã phải chiến đấu kiên cường. Các cố gắng của ngài, cộng với của cha Darbon, đã đạt được phần thắng. Tất cả có lẽ chưa chấm dứt truớc khi hai họ đạo này, nhất là Xuân Hoà, được thiết lập vững chắc, cha Henrion và cha phó của ngài sẽ phải vất vả thêm nhiều và chống lại với nhiều ảnh hưởng rất thù nghịch với người kitô hữu..
Các người đạo mới xứ An Lạc, do cha Laurence và cha Chiến chăm sóc, đã lập thành một làng độc lập, có dấu triện riêng, có lý trưởng và ruộng đất của mình. Chỉ các cha Laurence, Darbon và cha Chiến mới có thể nói cho chúng ta các lao nhọc vất vả các ngài phải chịu và các nổi khủng khiếp các ngài đã cảm nhận về phía chính quyền Pháp và Việt khi quyết định lập giáo xứ này vì phần rỗi của hàng trăm linh hồn.
Cha Vân phụ trách giáo xứ Mỹ Hương, đã rửa tội 30 dự tòng. Cha Darbon đã đến giúp và thành công trong việc làm cho các người dân đáng thương này khỏi những sách nhiễu chống lại với chủ đích ngăn cản họ trở lại Đạo.
Cuối cùng, cha Thới gặp được nơi các tín hữu của mình, một tâm tình dễ bảo giúp ngài làm cho họ đi sâu hơn vào trong đời sống đạo.
Sau hết, Đức Cha Allys kết luận: Cuộc viếng thăm mục vụ của tôi trong giáo hạt Quảng Bình đã mang lại cho tôi nhiều niềm vui thích dịu dàng: và tôi đã ban phép Thêm Sức cho 940 người. Thật hạnh phúc khi thấy tất cả các linh mục của giáo hạt này thi nhau nhiệt thành lo việc thánh hoá các kitô hữu, và chú tâm thực hiện các chỉ thị, cũng như vâng theo các ao ước của Đức Thánh Cha về việc thường xuyên nhận lãnh các bí tích, giữa các thiếu nhi, cũng như nơi các người lớn. Ước gì lòng sốt sắng này còn tăng thêm. Tôi cũng mong ước rằng phong trào trở lại đã thấy được trong phần phía Nam của giáo hạt này, lan rộng ra phần phía Bắc và thoả mãn được các ước vọng của cha Darbon và của tất cả các vị cộng tác với ngài.
+ Năm 1913: (Đức Cha Allys)
Kể từ khi cha Darbon điều hành giáo hạt Tam Toà, mặc dầu những cố gắng liên tục, ngài đã không có được niềm vui ghi sổ được số người tân tòng như ngài ghi được trong năm nay: khoảng 10 người. Ước mong sao số nầy được nhân lên gấp mười lần và giúp cha Darbon lại vui hưởng được những thành quả như đã có ở Linh Thuỷ trước đây.
Sau nhiều cuộc vận động lâu dài, cha Henrion đã xây dựng được một nhà nguyện ở Xuân Hoà và bố trí một nơi ở cho cha phó của ngài, là cha Tuệ. Cha Henrion xác nhận 54 người lớn được rửa tội, trong đó có 29 người thuộc họ đạo Xuân Hoà.
Ngoài những con số rửa tội cao thấp ít nhiều như tôi đã nói ở trên, nhiều cuộc rửa tội khác, ít quan trọng hơn, đã được ghi trong các sổ riêng của hầu hết các giáo xứ của Miền Truyền Giáo. Vậy có thể nói không quá đáng rằng công trình trở lại của lương dân đối với tất cả chúng tôi, là một vấn đề quan tâm liên lạc; tuy nhiều điều này không ngăn trở việc lo thánh hoá các kitô hữu. Các chủng viện và các cộng đoàn tu trì của chúng tôi thực sự mang lại một phần quan trọng cho tổng số các bí tích đã được ban phát; nhưng phần các giáo xứ cung cấp cũng không kém phần lớn lao. Trong nhiều nơi, các lượt rước lễ thường xuyên trở nên đông đúc và người ta không cần đếm số các tín hữu tiến đến Bàn Thánh các ngày Chúa nhật và ngay cả nhiều lần trong tuần nữa.
+ Năm 1914: (Đức Cha Allys)
Giáo hạt Quảng Bình do cha Darbon phụ trách, bao gồm 11 giáo xứ được dẫn dắt bởi 5 vị thừa sai và 6 linh mục bản xứ. Cả hạt đã có 314 người lớn được rửa tội, nguyên chỉ mình cha Vân quản xứ Mỹ Hương đã rửa tội được 147 dự tòng. Ngài sắp rửa tội thêm một số người thì ngài bị bệnh quật ngã và buộc phải đi Huế để nhờ các bác sĩ ở đó chữa trị. Tạ ơn Chúa, ngài đã hồi phục sức khoẻ, dầu đã 67 tuổi, để quản trị giáo xứ của ngài trong vài năm nữa.
+ Năm 1916: (Đức Cha Allys)
Giáo hạt Quảng Bình đã cung cấp một số lớn là 897 người được rửa tội trong một nhóm làng gần nhau, điều này sẽ góp phần nhiều vào việc mang lại sự bình yên và kiên trung cho các tân tòng; cha Mỹ rửa tội 302 người; cha Chiến 242; cha Bertin và cha phó là cha Tuệ 242; các người khác, do cha Thới và cha Phan.
+ Năm 1917: (Đức Cha Allys)
Ngày 22/8/1917, cuối tuần bát nhật mừng lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, các khách hành hương từ khắp nơi trong Miền Truyền Giáo đã tụ về La Vang. Hơn 3000 người thuộc tỉnh Thừa Thiên đã đi bằng tàu hoả đến Quảng Trị. Hơn 1000 người khác hoặc đi bộ hoặc đi thuyền. Về phần các người hành hương của tỉnh Quảng Trị, tỉnh được Đức Maria yêu thương đặc biệt, số người tham dự chắc chắn vượt quá 6000, còn phải thêm tất cả những khách hành hương đến từ tỉnh Quảng Bình. Công nghiệp của các người này càng lớn hơn vì đối với phần đông trong họ, cuộc hành hương đến La Vang đã kéo dài từ 5 đến 6 ngày và phải đi bộ dưới một thời tiết nóng đến ít nhất 36 độ C.
(còn tiếp)
(Trích dịch từ nguyên bản Pháp ngữ “Các Báo Cáo Thường Niên của Các Vị Giám Mục Giáo Phận Huế gửi Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris từ 1872-1940” do Lê Thiện Sĩ sưu tập)
Linh Mục Stanislaô Nguyễn Đức Vệ
- 22/08/2010 11:11 - Một vài hồi tưởng về sinh hoạt mục vụ của Linh mục…
- 03/08/2010 22:45 - Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Quảng Bình (bài 9 và 1…
- 21/07/2010 00:50 - Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Quảng Bình (1875-1940)…
- 18/07/2010 15:58 - Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Quảng Bình (1875-1940)…
- 15/07/2010 20:25 - Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Quảng Bình (1875-1940)…
- 11/07/2010 16:02 - Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Quảng Bình từ năm 1875…
- 07/07/2010 16:54 - Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Quảng Bình từ năm 1875…













