Sơ lược đôi nét về Giáo Hạt Dinh Cát, Giáo Phận Huế (1885 –1940)

In

Bài 3 : Năm 1894, 1895, 1896

Năm 1894: (Đức Cha Caspar)

          Cha Patinier phụ trách tỉnh Quảng Trị viết cho tôi:

          “Thưa Đức Cha, con được an ủi nhiều khi dâng lên Đức Cha con số đẹp đẽ là 758 người lớn được rửa tội. Máu các vị tử đạo, đổ ra tràn đầy năm 1885 tiếp tục làm phong phú mãnh đất Việt. Số các kitô hữu tăng thêm, và Nước Chúa ngày càng lan rộng. Danh Chúa Giêsu và Đức Maria được biết đến và kêu cầu hiện nay trong các làng mạc, nơi cách đây vài năm, chỉ mình ma quỉ được tôn thờ . Nhưng công việc của các tay thợ tông đồ trở nên quá vất vã và thời gian không xa nữa sẽ phải nhân đôi các nhiệm sở để có thể lo cho các kitô hữu mới theo cách chuyên cần hơn. Đó là những cây còn nhỏ cần phải được vun tưới thường xuyên. Như lời thánh Phaolô đó là các trẻ nhỏ còn cần được uống sữa. Vị thừa sai phải ở với họ để giúp họ gìn giữ  những khuynh hướng tốt đẹp, an ủi khích lệ họ, và cũng để bênh đỡ họ chống lại các quỷ dữ. Cha mẹ và bạn bè lương dân của họ dốc sức làm cho họ lùi bước, nếu họ chưa được rửa tội, và để kéo họ bỏ đạo, nếu họ đã được tái sinh.

            Vào tháng 12 vừa qua, con đã có một kinh nghiệm buồn. Khoảng 15 gia đình ở Đạo Đầu đến xin con gửi các giáo lý viên đến giúp họ; họ đã chuẩn bị một túp lều nhỏ để đón tiếp và muốn trở lại Đạo bằng mọi giá. Tiếng đồn về vận động đó lan xa trong vùng; tức khắc cha mẹ bạn bè chạy đến kêu la khóc lóc khẩn khoản xin họ đừng nên vội mà cứ chờ đợi. Khi các giáo lý viên đến, 15 gia đình này do dự và xin hoãn lại vài tháng để suy nghĩ. Đêm hôm sau, túp lều chuẩn bị để đón các giáo lý viên làm mồi cho lửa cháy và những người đó vẫn còn suy nghĩ. Ma quỷ đã thắng và, trừ ra có một ơn đặc biệt, các tâm hồn này trước đó đã được chuẩn bị rất tốt, nay vẫn còn ở lại trong ngoại giáo. Khốn thay kẻ đã tra tay vào cày mà còn ngoái lại đàng sau.

            Ước gì các tâm hồn bên trời Âu, rất tận tâm với các công trình của chúng tôi, vui lòng cầu nguyện cho chúng tôi; bởi vì chúng tôi rất cần lời cầu nguyện để vượt thắng được những trở ngại chúng tôi đang gặp trên đường.

          Đức Cha biết họ đạo nhỏ La Vang, ở trong núi. Đã từ lâu, Đức Mẹ vui lòng ban những ơn đặc biệt cho những ai kêu cầu Ngài dưới tước hiệu Đức Mẹ La Vang. Vào năm 1885 ngôi nhà nguyện cũng chẳng được miễn trừ cũng như các nhà thờ khác của giáo hạt Hòa bình vừa lập lại, con đã vội vã dựng lên ngôi đền thánh nhỏ, nhưng một cách hoàn toàn tạm bợ, trong lúc chờ đợi các ngân khoản và cũng chờ thời gian ít biến động hơn. Cha Bonnand, người đã thế con trong thời gian con đi nghỉ bên Pháp, đã lo lắng tích cực và có cha Gontier giúp đỡ để xây dựng vững chắc nguyện đường này. Hai người anh em này đã kiếm được một ít tiền bạc và mua các vật liệu cần thiết cho ngôi nhà gạch dự kiến này. Xin Đức Mẹ khấng thưởng công cho lòng nhiệt thành của các ngài. Trở về lại, con đã kêu gọi mọi tín hữu thiện chí chuyển các gỗ xây dựng từ núi cao về.

          Vào ngày đã định, họ đến đông đúc từ 6 dặm quanh đây, chia nhau các khúc gỗ và trong hai chuyến mọi thứ đã được đem về La Vang. Cha Gontier và con lấy làm an ủi khi thấy niềm vui và sự hăng hái của các tín hữu đáng mến này để lo cho công việc. Chúng con  thấy họ ướt đẫm mồ hôi và vai nặng gánh. Quá thương họ, chúng con bảo họ nghỉ ngơi một chút; họ vui vẻ trả lời: “Thưa quí cha, chúng con làm cho Đức Mẹ; Mẹ sẽ thương mang lại cho chúng con những ơn lành mới”, và họ ra đi vừa cười vừa hát. Ngày hôm sau, bộ giàng trò đã được dựng lên, bây giờ chỉ còn việc hoàn thành nhà thờ mà thôi.

          Mỗi gia đình sẽ mãi lấy làm vinh dự được tham gia công trình này và sẽ gửi tiền dâng cúng. Hoan Hô Đức Mẹ La Vang!

          Công trình Hội Thánh Nhi phát triển trong giáo hạt này. Hơn 2.200 trẻ em được rửa tội lúc nguy tử làm tăng thêm số người được cứu chuộc ở trên trời, nơi chúng cầu nguyện cho các bạn nhỏ của mình bên trời Tây”.

Năm 1895 (Đức Cha Caspar)

          Từ tỉnh Huế qua tỉnh Quảng Trị chúng ta gặp hai giáo hạt Dinh Cát và Đất Đỏ.

          Cha Patinier, đặc trách giáo hạt Dinh Cát trong phần lớn năm mục vụ, trình bày việc quản trị của ngài như sau:

          “Năm ngoái, con đã vui mừng dâng lên Đức Cha bó lúa vàng là 758 người lớn được rửa tội. Năm nay, than ôi! chỉ có một chuổi xung đột và chiến đấu liên tục. Dầu sao, cho dẫu  hỏa ngục căm giận lồng lên chống lại, chúng con vẫn có thể dạy dỗ và rửa tội 432 lương dân. Chính cha Gontier đã lãnh vòng nguyệt quế, vì riêng ngài đã rửa tội 232 người lớn. Cũng chính ngài đã chịu đựng nhiều nhất những sách nhiễu và khổ tâm từ phía quan đầu tỉnh. Nhân vật này ghét tất cả các người nước ngoài, dù bất cứ quốc tịch nào, từ khi đến đã thề quét sạch khỏi xứ mình những người Tây và các kitô hữu. Ông gây chia rẽ với các nhà chức tránh Bảo hộ, bởi dáng dấp cao ngạo và khinh khỉnh, bởi ác ý có tính toán bằng cách nói với những ai muốn nghe mình rằng tụi Tây là những tên trộm đểu giả và mọi phương thế đều tốt để rửa sạch đất Annam khỏi thứ mối mọt này. Chỉ còn thiếu một chút là theo tiếng ông, cả tỉnh đã đứng lên. Về phía giáo dân, ông bỏ tù họ chỉ vì một lời tố cáo nhỏ, và giam họ ở đó nhiều ngày nhiều tháng mà chẳng thiết gì đến việc hỏi han họ. Bao nhiên lần, cha Gontier và con đã  chứng tỏ cho ông, với những giấy tờ chứng cứ, sự giả trá của những kiện cáo chống lại người kitô hữu. Ông đành phải chịu và còn hứa với chúng tôi bao nhiêu điều tốt đẹp nữa; nhưng số kitô hữu vẫn không vơi đi trong các nhà tù của họ.

             Cha Izarn một ngày kia may hơn chúng con. Ngài làm ra vẻ muốn trụ lại nơi cửa quan và ở lại đó cho đến khi vụ kiện một kitô hữu của ngài được xét xử. Viên quan sai lầm  như mọi khi e ngại vụ kiện sẽ được chuyển lên trên nên tỏ ra lo sợ và thế là cha  Izarn thắng cuộc trở về với người giáo dân của mình, người đã  phải mang cáng và bị xiềng xích trong nhiều tuần lễ.

          “Percute pastorem et dispergentur oves” (Hãy đánh chủ chiên và đàn chiên sẽ tan tác), kẻ thù đã thề theo châm ngôn đó từng chữ; họ chăm chú gièm pha các thủ lãnh giáo đoàn nhất là những nơi vừa mới được thành lập và nếu không được Mẹ La Vang chở che đặc biệt, thì chắc chúng con đã phải khóc than nhiều sự mất mát rồi!

          Còn bất công hơn đối với những người lương dân muốn trở lại: người ta đi đến chỗ kết án lưu đày vĩnh viễn một người nào đó chỉ có tội là muốn trở lại Đạo. Tất cả các nho sĩ trong tỉnh thù nghịch bẩm sinh đối với người Tây và kitô hữu, và các quan nhỏ, để được điểm tốt, đã đi theo những bước chân sách nhiễu của quan đầu tỉnh và liên tục loan truyền những hô hào chiến tranh và bách hại. Trong hoàn cảnh đó, khó cho chúng con đạt được những bước tiến lớn.

          Cuối cùng, Chúa đã đoái thương chúng con. Triều đình Huế được báo cho biết rõ những gì đang xãy đến trong tỉnh chúng con, dã cho về vườn viên quan có óc bè phái này vì có thể gây phương hại và bị trách cứ nặng nề về phía chính quyền Tây. Triều đình đã thay thế bằng viên quan đầu tỉnh cũ được mọi người quý mến. Vì vậy, chúng con có thể hy vọng một thời kỳ hòa bình và yên ổn. Ước gì các lương dân dùng cơ hội này để gia nhập Hội Thánh thật đông.

Năm nay, dầu Satan và những bộ hạ quấy phá, 3 nhiệm sở mới đã được thiết lập trong giáo xứ của cha Gontier. Thêm một ít cố gắng và nhiều lời cầu nguyện thì ít lâu nữa, nhờ ơn Chúa giúp, cả con đường thủy, từ cửa biển Huế cho đến tỉnh Quảng Bình, từng đoạn sẽ có những họ đạo và mỗi nơi sẽ có một nhà nguyện nhỏ.

Công trình Hội Thánh Nhi tiến triển tốt trong tỉnh Quảng Trị: 1479 trẻ em lương dân được rửa tội lúc nguy tử. Vinh dự thay cho các hội viên Hội Thánh Nhi vì nhờ của họ dâng cúng, chúng tôi đã đưa về thiên đàng biết bao nhiêu linh hồn, mà nếu không có họ, các linh hồn này sẽ mất đi mãi mãi hạnh phúc muôn đời. Từ trời cao, các thiên thần nhỏ này cầu nguyện cho các ân nhân của mình”.

Năm 1896: (Đức Cha Caspar)

Tỉnh Quảng Trị gồm 2 giáo hạt, dưới quyền điều hành của các cha Bonin và Barthélémy.

Cha Bonin viết về giáo hạt của ngài như sau :

Năm vừa qua đối với giáo hạt Dinh Cát và Thanh Hương là một năm được chúc phúc và cũng là năm làm việc vất vả và đầy mệt nhọc. Các giáo dân cũ thường gần gũi các bí tích; ba làng đã có những người trễ nải nay thật lòng trở lại với việc thực hiện các bổn phận đạo đức..

Số các cuộc trở lại cho thấy một tiến triển rõ ràng. Trong số 600 người lớn được rửa tội, phần lớn do cha Gontier. Vả lại, mặc dầu tình trạng sức khỏe yếu kém  hao mòn vì khí độc trong vùng ngài ở, người anh em này đã đạt được những thành quả rất tốt đẹp từ nhiều năm qua.

Phần giáo hạt thuộc về con đặc biệt có số khá lớn lương dân ao ước trở lại và nếu chúng con không thể dạy dỗ tất cả trước cuối năm mục vụ này, chúng con hy vọng vững chắc năm tới sẽ cung cấp một số người được rửa tội cao hơn năm 1896. Cha Gilbert cũng ngập tràn công việc vì số tân tòng xin học đạo quá đông. Một mình ngài rõ ràng không thể lo hết việc. Các linh mục bản xứ trong vùng này , ai cũng làm cho Nước Chúa tiến triển ít nhiều. Hai vị có ít số lương dân trở lại cũng đã mang về ràn chiên một ít con chiên lạc đàn và hiện nay nơi các ngài cũng như  ở các nơi khác, có nhiều người xin trở lại.

Có lẽ người ta sẽ nói rằng Chúa nhân lành muốn giữ vừa phải niềm vui của chúng con khi thấy lương dân trở lại từng đoàn . Ngài để cho ma quỷ gây ra cho chúng con đủ thứ khó khăn, khi thì các chức sắc trong làng xã tìm gây sự với người tân tòng bằng cách kiện cáo gây tổn hại; khi thì họ cố sức lôi kéo những người này bằng cách hứa cho tiền bạc hoặc địa vị. Có những lần khác thì các lương dân đòi nợ một cách gay gắt , mà nếu con nợ bảo đảm không theo đạo nữa thì họ sẽ không đòi và buông tha ngay. Cũng xãy ra là để xóa bỏ phong trào tòng giáo, các vị chức sắc dựng lên những cái bẫy đối với những người đơn sơ, chất phác và rồi gán cho họ đã phạm những tội ác.

May thay trong lúc này, chúng con có được những vị quan lại khá tốt trong tỉnh hoặc hơn nữa trong tỉnh lỵ, nhưng các viên chức cấp dưới vừa làm ra vẻ tốt lành bên ngoài mà lại thường nguy hiểm hơn; họ tìm đủ mọi cách có thể để không trả lại công bằng cho những người tân tòng khốn khổ, hoặc để trừng phạt  quá nghiêm khắc khi họ mắc phải một lỗi nhỏ nào đó.

Mặc cho như thế,  thật vui sướng cho vị thừa sai giữa tất cả những khó khăn, lại gặp được khá thường xuyên những người mới theo đạo can đảm chịu đựng những khốn khổ đó và càng thêm sốt sắng hơn. Thật đẹp, thật an ủi khi thấy như ở Ba Lăng, làng ở gần biển và ở xa các họ đạo, ba người không biết đọc biết viết cử ra một người trong họ, cứ hai hoặc ba ngày từ xa hơn ba cây số, đến học thuộc lòng một kinh nguyện. Khi người được cử đi trở về, người này lại chỉ bày kinh này cho hai người kia, rồi trở lại nơi người kitô hữu để được dạy cho một kinh mới và cứ thế cho đến khi hoàn thành việc học đạo. Sau cùng, các người này nay đã được rửa tội. Hôm nay, họ đã đến gặp con sau giờ cầu nguyện ngày chúa nhật. Con đã hỏi họ xem có thể đến đúng giờ để dự lễ không. Họ trả lời: “Thưa cha được , nhưng hôm qua từ sáng sớm, chúng con đã đi đến Đạo Đầu; những lần khác chúng con đã đi đến Thương Trạch từ chiều hôm trước hoặc đến Linh Chiểu và như thế chúng con có thể đi từ rất sớm đến kịp lúc khởi sự các nghi lễ đạo đức”..

Đôi lúc chúng con nghe những người mới theo đạo lặp đi lặp lại: “A! giá như tôi biết Đạo sớm hơn thì tôi đã trở lại Đạo từ lâu rồi !” Những người đó tìm cách làm cho cha mẹ và bạn bè họ hưởng được niềm hạnh phúc này. Chính nhờ thế năm nay, từ 15 cho đến 18 làng vừa rộng mở cho Tin Mừng đều đã thấy tăng thêm số kitô hữu”

++++++++++++++++++++++++++++

Bài 4 : Năm 1897, 1898, 1899, 1900

Năm 1897: (Đức cha Caspar)

Cha Bonin điều hành giáo hạt Dinh Cát viết :

3400 người lớn được rửa tội cho thấy nhờ ơn Chúa giúp, chúng con chẳng ăn không ngồi rồi. Chúng con phải cảm tạ Chúa nhiều vì chẳng bao giờ chúng con đã dám hy vọng một kết quả tốt đẹp như thế.

Các người đạo mới có tinh thần tốt và chu toàn tử tế các bổn phận. Con chỉ xin nêu lên hai sự kiện làm bằng chứng. Cách đây một ít thời gian, con đã đi cử hành lễ bổn mạng ở Qui Thiện: tối hôm trước, con không thể giải tội hết được. Ở Ngô Xá, con cũng đã đi giải tội và dâng lễ chúa nhật. Các người đạo mới này vây kín tòa giải tội và vì quá mệt, con đã phải cho họ lui một nửa. Thế mà, phần lớn đã xưng tội hai hoặc ba tháng trước. Ngày hôm sau, vào giờ lễ, giáo dân đông đến nỗi nhà thờ và căn trại dựng trước không đủ chỗ. Xin Chúa nhân lành ban cho họ trung thành trong các tâm tình đạo đức này. Tuy nhiên, cũng phải luôn lo sợ dần dần sẽ lơi đi.

Để chống lại phần nào nguy cơ này, có lẽ chúng con phải xây dựng ít nữa một tá nhà nguyện hoặc nhà thờ. Chúng con đã có 11 nhưng một số lớn các làng đã đến với chúng con, làm cho trong nhiều nơi các người mới theo đạo không có chỗ tụ  họp để cầu nguyện chung và để tham dự thánh lễ thỉnh thoảng tại nơi họ ở.

Làng Tham Triều đã xảy ra một vụ kiện lớn mà cuối cùng chúng con đã thắng, bây giờ làng đã có một nhà nguyện nhỏ. Các lương dân lại có những tình cảm tốt hơn và đã xin cho họ giúp các kitô hữu dựng nhà nguyện này. Khi con đi qua đó, cách đây ít lâu,các người mới theo đạo đã báo cho con rằng các vị chức sắc trong làng ao ước gặp con. Vì con gấp việc, con đã hứa với họ vào chuyến đi sau con sẽ trú lại Tham Triều lâu hơn và sẽ rất hân hạnh đón tiếp họ.

Vẫn không thiếu các thử thách đối với chúng con; tuy nhiên niềm hạnh phúc kiếm được một mùa bội thu đã làm cho chúng con vui vẻ chịu đựng những khó khăn, bệnh tật và bao nhiêu vụ kiện nhỏ cũng thường xãy ra trong hoàn cảnh này. Ma quỷ ghen tuông vì thấy bị truất ngôi cùng một lần ở tại bao nhiêu địa điểm, luôn gây ra một vài sự rối rắm. Dầu vậy, các lương dân vẫn tiếp tục đến với chúng con rất đông.

Sau khi dạy dỗ và rửa tội các tân tòng, công việc còn lâu mới hoàn thành; phần lâu nhất và quan trọng nhất vẫn còn phải làm, con muốn nói đến việc đào luyện các người đạo mới này trong các thực hành đạo và chuyên cần tuân giữ các bổn phận đạo đức. Có thể nói họ biết lý thuyết, họ đã thực hành được  đôi chút, trước và nhất là trong khi học hỏi. Thế nên, phải đạt đến chỗ họ tự mình thực hành. Chính vì mục đích đó mà trong khoảng thời gian hai hoặc ba tháng sau khi rửa tội, người ta quy tụ họ lại dạy dỗ đặc biệt, để họ xưng tội và rước lễ. Lúc đó người ta chỉnh sửa các tàng tích ngoại giáo mà có lẽ họ chưa bỏ đi hoàn toàn, hoặc trong lời lẽ hoặc trong các tiếp xúc với lương dân. Trong nhiều nơi, công việc này trở nên dễ dàng cho chúng con hơn, bởi vì một số rất lớn các làng mạc có những người đạo cũ và do đó, các cuộc gia nhập mới có được gương lành của các bậc đàn anh  đi trước” .

Năm 1898: (Đức cha Caspar)

Các cha Bonin, Gilbert và Chabanon được nhiều linh mục Việt trợ lực, thi hành nhiệm vụ thánh trong giáo hạt Dinh Cát. Sự hợp lực của họ đã đạt được những thành quả sau đây: Rửa tội 2.525 người lớn, 2847 trẻ em lương dân; giải tội năm cũng như thường xuyên 21.222 lượt, trao Mình Thánh Chúa 23.231 lượt. Trong số 6 họ đạo mới do cha Bonin coi sóc, 4 họ quan trọng hơn giờ đây đã có nhà nguyện. Họ đạo Cổ Thành đụng chạm lâu ngày với sự thù ghét của lương dân và ác tâm tỏ tường của các quan lại. Sau cùng theo lời cha Chabanon, họ đạo này cũng đã có được một mảnh đất nhỏ để dựng nhà thờ. Cha Gilbert ít may mắn hơn ở Chí Long. Từ 2 năm nay, mặc dầu những hứa hẹn của các nhà chức trách Pháp và Việt, ngài vẫn không thể đạt đến việc các chức sắc người lương địa phương trao cho mãnh  đất để có thể xây dựng một nhà nguyện.

Năm 1899: (Đức cha Caspar)

Sau đây là số người lớn đã được rửa tội trong các giáo hạt khác nhau của giáo phận: Bên Thủy 214, Bắc Quảng Bình 321, Nam Quảng Bình 69, Đất Đỏ 112, Bên Bộ 332; Dinh Cát 175.

Năm 1900: (Đức cha Caspar)

Sau cùng, một niềm vui lớn, cũng là một lý do mạnh mẽ mang lạo niềm hy vọng cho Đức Giám Mục Đại Diện Tông Tòa, và hàng giáo sĩ khi làm phép ngôi nhà nguyện được xây dựng ở La Vang dâng kính Đức Maria, thay cho ngôi nhà nguyện cũ đã bị phá hủy trong cơn biến loạn 1885. Chũng tôi vui mừng kết thúc bản báo cáo này bằng câu chuyện kể về cuộc biểu dương này; chúng tôi mượn lời kể trong bản báo cáo của cha Bonin hạt trưởng Quảng Trị (Dinh Cát) nơi có La Vang (Đại Hội La Vang lần thứ 1)

Từ lâu, các tín hữu yêu cầu khánh thành đền thánh mới của Lavang và thừa nhận, có thể nói là công khai, cuộc hành hương đã được thiết lập tại đó để tôn vinh Đức Trinh Nữ rất thánh. Sau cùng , năm nay, các công việc xây dựng đã hoàn thành, người ta đã có thể thỏa mãn lòng sùng kính không chỉ của các tín hữu Quảng Trị, nhưng còn là của mọi người công giáo của Miền Truyền Giáo.

Buổi lễ được ấn định vào ngày 8 tháng 8. Nhưng ngay từ tối hôm trước, từng đoàn giáo hữu từ những nơi xa xôi nhất đã tụ hội về, trong số đó có người phải vượt quãng đường 150 cây số. Người ở gần cũng đã có mặt lúc nửa đêm, để 4h sáng mọi người đều bắt đầu dàn đội ngũ cho cuộc kiệu lớn, khởi hành rước bộ lúc 5h sáng.

Đoàn các giáo xứ, dưới sự hướng dẫn của cha sở mình, làm thành nhóm dẫn đầu đoàn rước. Giáo hữu sánh hàng đôi bước đi. Nhiều người tay cầm cờ xí, cờ nheo và đủ loại giáo kỳ. Sau đoàn các giáo xứ là đoàn hàng trăm nữ tu con Đức Mẹ, với sắc cờ riêng biệt. Mọi người nghiêm trang và thành kính tiến bước, trong khi nhóm này lần chuỗi thì nhóm kia hát thánh ca tiếng Việt..

Tiếp theo, các tiểu chủng sinh, các thầy Đại chủng viện theo sự chỉ dẫn của cha bề trên Izarn vừa đi vừa hát những bài ca phụng vụ. Rồi đến các linh mục bản xứ, các linh mục thừa sai mặc áo các phép hầu cận Đức Giám Mục hiệu toà Canathe, Đấng dù tình trạng sức khoẻ suy giảm vẫn cố sức chủ trì cuộc kiệu đầy cảm động này.

          Sau cùng thánh tượng Đức Mẹ hiện rõ trên bàn kiệu đầy hoa nến và khẩu hiệu do 16 phu khiêng. Bốn góc phương du, bốn cụ già được tuyển chọn trong số các giáo dân trọng vọng, như toán lính danh dự chầu hầu Đức Mẹ, hoà giọng trầm cùng các kiệu phu, chia làm hai bè lần chuỗi hoặc đọc kinh cầu ..

          Đoàn kiệu kéo dài ít nhất ba cây số tạo thành một cảnh tuyệt đẹp. Ước tính có khoảng 12.000 giáo dân tham dự lễ hội hành hương. Nhiều người lương đi theo hoặc đứng nhìn mà không biểu lộ dấu hiệu gì thù nghịch. Họ tỏ thái độ cảm phục.

          Lộ trình kiệu từ Cổ Vưu đến nhà thờ La Vang khoảng gần 7 cây số. Ngay khi đến nơi Đức Cha Caspar làm phép nhà thờ mới, tiếp đến cha Patinier giảng một bài đầy xúc động trước cộng đoàn, trong đó ngài phác hoạ lại dòng lịch sử cuộc hành hương La Vang có từ gần 100 năm qua. Cuộc hành hương kết thúc bằng thánh lễ trọng thể có phó tế và phụ phó tế do cha Barthélémy chủ tế.”

          Nguyện xin Đức Mẹ La Vang hoàn thành niềm vui mà ngày này đã mang đến cho các linh mục và giáo dân bằng cách chấm dứt tất cả những gì nghịch lại sự lan rộng của vương quốc Con Mẹ trong các vùng được cuộc hành hương này chở che.

(Trích dịch từ nguyên bản Pháp ngữCác Báo Cáo Thường Niên của Các Vị Giám Mục Giáo Phận Huế gửi Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris  từ 1872 – 1940do Lê Thiện Sĩ sưu tập )

                                 Linh mục Stanislaô Nguyễn Đức Vệ      

 

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

.: Trang tin của Tổng Giáo Phận Huế - Phụ trách: LM. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang :.
Địa chỉ: 69 Phan Đình Phùng - Huế - Việt Nam - Tel: 84.54.3831967

Email: tonggiaophanhue@gmail.com hoặc envgioang@gmail.com - Website: http://tonggiaophanhue.net

Copyright © 2009 TRANG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ. All Rights Reserved.