Góp ý suy niệm về Lễ Ba Vua

In

Góp ý suy niệm về Lễ Ba Vua

1.     Hai cảnh trái ngược - Trong bài Tin Mừng, ta thấy hai cảnh trái ngược. Dân Do Thái nóng lòng trông chờ suốt mấy trăm năm trời Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ loan báo trước đo, thếá mà chẳng mấy ai muốn tìm kiếm Ngài, nên khi Ngài đến, thì chẳng mấy ai trong nhận ra mà đến gặp Ngài. / Thật đúng như Tin Mừng Gio-an nói: «Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận» (Ga 1,11). Chẳng những họ không nhận ra, mà còn bách hại Ngài nữa. / Trái lại,  những người đến tìm Ngài, nhận ra Ngài là Vua, là Đấng Cứu Thế, lại không phải là những người mang danh là vẫn trông chờ Ngài đến, không phải là những người đã từng nghe nói về Ngài, không phải là những người thông thạo Kinh Thánh, càng không phải là người biết được Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở đâu. / Đúng lý ra, chính những người trông chờ Ngài, biết nhiều về Ngài phải là những người đến tìm Ngài và nhận Ngài đầu tiên, trước tất cả những người khác. Nhưng  những người tìm Ngài, gặp được Ngài, và nhận ra Ngài là ai, lại là những người ngoại giáo ở tận đâu đâu, rất xa xôi, và những mục đồng dốt nát chẳng hề cầm đến cuốn Kinh Thánh, thậm chí có thể chẳng biết Kinh Thánh nói gì. / Điều ấy khiến chúng ta nhớ đến lời Đức Giêsu nói khi nghe viên đại đội trưởng đến xin Ngài chữa bệnh cho con gái ông ta: «Tôi không thấy một người Ít-ra-en nào có lòng tin như thế. Tôi nói cho các ông hay: Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12).

2.     Những sự kiện ấy khiến chúng ta phải suy nghĩ. - Nhiều khi chúng ta tự hào mình là đạo gốc, là người thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ, là giáo lý viên, là giáo dân loại «hảo hạng», hay là người thông thạo lẽ đạo, hiểu biết nhiều về Kinh Thánh, v.v… Vì thế, chúng ta nghĩ mình sẽ là những người ưu tiên vào Nước Trời: ta nghĩ rằng nếu mình mà còn không được vào Nước Trời thì còn ai vào được nữa? Suy nghĩ và tự hào như thế có thể chúng ta đã lầm. Một cái lầm hết sức tai hại./ Chúng ta tưởng rằng mình có đức tin, chúng ta tưởng rằng cách giữ đạo của mình hiện nay là đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta tự hào là mình đã nắm được ý muốn của Thiên Chúa, luật lệ của Ngài, hiểu rõ lẽ đạo, chân lý của Ngài, và tưởng rằng mình đang sống đúng đường lối của Ngài. Nhưng thật ra chúng ta đang sống một lối sống ích kỷ, kiêu căng, tự mãn, tự hào về những công đức của mình, chẳng hề quan tâm và giúp đỡ những người khốn khổ chung quanh ta. Có thể chúng ta có tính ganh tị, thấy ai hơn mình, may mắn hơn mình, thì tìm cách dèm pha, hạ giá họ xuống. Có thể chúng ta là những người không thể cộng tác với nhau và với ai, vì «cái tôi» của chúng ta lớn quá. Có thể chúng ta có tính không tha thứ khi có ai đó xúc phạm đến ta. Có thể chúng ta chưa yêu thương những người sống ngay bên cạnh ta ở mức độ đúng như Chúa đòi hỏi. Có thể chúng ta có rất nhiều hành vi có vẻ yêu thương, chứ không phải thật sự yêu thương. Có thể chúng ta đang sống rất xa Chúa, mà cứ ngỡ là mình gần Chúa lắm. / Chúng ta tưởng rằng mình thiện chí hơn, sống tốt hơn những người ngoại đạo, hay hơn nhiều Kitô hữu khác, nhưng trong thực tế, chúng ta kém họ, chúng ta không quảng đại bằng họ, không hy sinh cho những người sống chung quanh bằng họ, không cư xử có tình có nghĩa bằng họ. Và chính vì thế, họ gặp được Chúa, được Ngài chúc phúc, còn chúng ta thì chẳng gặp được Ngài, không nhận ra sự hiện diện rất cụ thể và tràn đầy của Chúa ở nơi những người mình gặp, trong những biến cố hằng ngày. Và vì thế, những người chung quanh ta không cảm thấy hạnh phúc vì có ta ở giữa họ, ở với họ. / Những người thông luật, thông Kinh Thánh, được tiếng là đạo đức như những người Pha-ri-siêu, các Ráp-bi Do Thái, các tư tế, các thầy Lê-vi đã không gặp được Ngài lúc Ngài sinh ra. Và ngay cả sau này, khi Ngài đích thân đến gặp họ, nói chuyện với họ, thì họ cũng chẳng nhận ra Ngài, mà tệ hơn nữa, còn tìm cách hãm hại Ngài. Hãy nghiêm túc tự hỏi: tinh thần của chúng ta hiện nay có giống họ không? giống chỗ nào? và nếu có khác, thì khác họ ở chỗ nào? Nếu Chúa đến theo cách khác hẳn với cách mà chúng ta vẫn nghĩ – mà chắc chắn là như vậy – thì ta có nhận ra và tiếp đón Ngài không? hay chúng ta lại nhân danh luật đạo và niềm tin của ta để kết án Ngài, giống như những người có vẻ đạo đức xưa kia đã làm cho Ngài? Ngài tiên báo sẽ đến như kẻ trộm, mà kẻ trộm thì lúc nào cũng đến bất ngờ, không chỉ theo thời gian mà theo cách thế nữa. Nếu không tỉnh thức, làm sao biết được. Coi chừng Ngài đang ở ngay bên ta, mà ta đâu có biết!

3.     Trong lịch sử cứu độ, ta thấy Thiên Chúa dành rất nhiều ưu tiên cho Dân Ngài trong việc lãnh nhận ơn cứu độ. / Đức Giêsu cũng vậy. Ngài nói với các môn đệ: «Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các chiên lạc nhà Ít-ra-en» (Mt 10,5-6), hoặc «Ta chỉ được sai đến với các chiên lạc của nhà Ít-ra-en thôi» (Mt 15,24). Nhưng điều tai quái xảy ra là những kẻ được ưu tiên thì lại tự hào về sự ưu tiên ấy, để rồi sống ngược lại với ý của Thiên Chúa, khiến họ không xứng đáng được cứu rỗi. Dụ ngôn tiệc cưới (xem Mt 22,1-14, hay Lc 14,15-24) cho thấy rõ điều đó. / Người được ưu tiên mời thì không chịu đến, khiến cho chủ tiệc phải mời tất cả những người ở ngoài đường vào dự tiệc. Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với họ, nhưng họ không nhận ra đó là ngôn sứ của Thiên Chúa, trái lại họ nghe thấy các ngôn sứ nói chói tai, và giết đi. / Phải coi chừng kẻo điều ấy lại xảy ra tương tự cho chính chúng ta, những người đã được rửa tội, mang danh là Kitô hữu, là người theo Chúa, là người đạo đức, nhưng nếu trong thực tế, đời sống chúng ta lại phản lại Tin Mừng, nghĩa là ích kỷ, kiêu căng, rất tự hào về đạo mình, khinh chê đạo khác. Liệu Đức Giêsu có thể nói với chúng ta như đã từng nói với người Do Thái xưa: «Tôi nói cho các ông hay, Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi» (Mt 21,43).

4.     Lễ Hiển Linh là một tin mừng đặc biệt cho dân ngoại. Qua nhiều đoạn Tin Mừng (như đã từng trưng dẫn ở trên), ta thấy Thiên Chúa mạc khải rằng chính dân ngoại cũng có thể được cứu rỗi nếu họ sống đúng theo lương tâm, hay sống đúng theo truyền thống tôn giáo của họ, sống xứng đáng là người đúng nghĩa là con người (xem thêm Rm 2,17-29; Rm 10,19-21; v.v…) . / Lạy Chúa, bài Tin Mừng về lễ Hiển Linh khiến con phải xét lại cách sống đạo của con. Có thể con đang sống theo kiểu người Do Thái xưa, hiểu biết về Chúa rất nhiều, nhưng lại sống một lối sống hết sức xa lạ với tinh thần Tin Mừng. Xin Chúa hãy làm cho trái tim của con mềm lại thành trái tim bằng thịt đích thực, biết rung cảm trước những đau khổ, những cảnh nghèo nàn túng thiếu, những thế kẹt của những người đang sống quanh con, đồng thời biết quảng đại ra tay giúp đỡ, dấn thân bênh vực. Amen.

5.     Chúng ta khó tưởng tượng được một lễ Giáng Sinh mà lại không có đèn ngôi sao. Bài tường thuật việc Chúa Cứu Thế sinh ra (Lc 2,1-14) không nói gì tới ngôi sao, nhưng trong câu chuyện các nhà đạo sĩ phương Đông tìm đến thờ lạy Người (Mt 2,1-12), thì ngôi sao lại có vai trò quan trọng, nó vừa báo hiệu "Đức Vua dân Do-thái mới sinh ra" vừa "dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở" (Mt 2, 2.9). Ngày xưa người ta thường tin rằng việc đản sinh của các bậc vĩ nhân được một ngôi sao đặc biệt báo hiệu. Nếu như quả thực đã có một ngôi sao lạ xuất hiện vào đúng thời gian Đức Giêsu ra đời, thì việc một số những nhà chiêm tinh phương Đông (có thể là người Ba-tư) đã nhìn thấy và giải thích như một điềm báo nhiệm mầu, thiết tưởng cũng là chuyện dễ hiểu. Có thể nói đó là "nghề" của họ. Nhưng vấn đề đó không phải là quan trọng trong đoạn sách Tin Mừng này. Đối với thánh Mat-thêu, người kể lại câu chuyện này, thì điều quan trọng là ý nghĩa tôn giáo mà ông nhấn mạnh. Mọi chi tiết của bài tường thuật đều làm nổi rõ ý nghĩa ấy.

6.     Khi nhắc tới ngôi sao dẫn đường cho các nhà chiêm tinh phương Đông, tác giả Mat-thêu muốn gợi lại lời của ông Ba-la-am trong sách Dân Số (24,17) - "Một ngôi sao mọc lên từ Gia-cóp, một vương trượng xuất ra từ Is-ra-en", và cho hiểu rằng "lời sấm" đó được thực hiện nơi Đức Giêsu. Trong ngày Giáng Sinh, Người đã "tỏ mình ra" cho các mục đồng, đại diện cho It-ra-en, dân riêng của Thiên Chúa; trong ngày lễ Hiển Linh, Người "tỏ mình ra" cho các đạo sĩ phương Đông, đại diện cho "dân ngoại". Hiển linh là tiếng chuyên môn để chỉ việc một vị thần linh xuất hiện cho người phàm, tức là tỏ mình ra cho người ta nhận biết, theo cách nói bình dân. Ngày xưa, chúng ta quen gọi lễ này là lễ Ba Vua. Gọi các nhà đạo sĩ tới bái lạy Hài Nhi Bê-lem là vua và xác định con số họ là ba người: đó là do sự giải thích về sau, không phải xuất phát trực tiếp từ Phúc Âm. Đã có lúc người ta nói tới 2 hoặc 4, thậm chí 8 ông vua, nhưng cuối cùng dừng lại ở con số 3, căn cứ vào ba lễ vật họ mang tới dâng "Ấu Vương" Giê-su. Các thánh Giáo phụ đã giải thích: vàng, nhũ hương và mộc dược là dấu chỉ việc các nhà chiêm tinh "ngoại giáo" này nhìn nhận thần tính và nhân tính của Đức Giê-su. Vàng, nhũ hương và mộc dược còn tiêu biểu cho sang giàu, phú quí. Vì thế chắc hẳn Mat-thêu cũng nhìn thấy trong việc dâng tiến này lời tiên báo của Cựu Ước được hoàn thành: "Kìa bóng tối bao trùm mặt đất và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa... Chư dân sẽ đi về ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước... Nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn nước sẽ tràn đến với ngươi..." (Is 60, 2-3.5 x. Tv72,10). Ngụ ý của tác giả Mat-thêu rất rõ ràng: Chúa Cứu Thế ra đời là cho toàn thể nhân loại. Người là ánh sáng cho muôn dân. Lễ Hiển Linh có thể gọi được là một lễ Truyền Giáo.

7.     Ngay trong ngày lễ này, chúng ta đã bắt đầu thấy tính bi đát của cuộc đời Chúa Cứu Thế khi thực hiện chương trình cứu độ, điều mà thánh Gio-an đã nói ngay ở đầu sách Phúc Âm của ngài:"Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà đã chẳng tiếp nhận" (Ga 1,11). Như trên đây đã cho thấy, Ngôn sứ I-sa-i-a tỏ ra rất lạc quan, phấn khởi về Giê-ru-sa-lem vào ngày Đấng Cứu Thế xuất hiện; thế nhưng khi Con Thiên Chúa giáng sinh thì mọi sự lại diễn ra khác hẳn. Trong câu chuyện về các nhà chiêm tinh, những kẻ thù của Người đã ló dạng. Đó là vua Hê-rô-đê, các thượng tế và các kinh sư. Nghe nói tới tân vương dân Do-thái mới sinh, họ hoảng sợ cho địa vị của mình. Rồi đây Hê-rô-đê sẽ cho giết tất cả con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh. Còn các thượng tế và kinh sư, họ là những người sẽ kịch liệt chống đối Đức Giê-su và sẽ cho đóng đinh Người trên thập tự. Như thế, những kẻ "ở ngoài" -- các nhà chiêm tinh phương Đông -- nhận ra ánh sáng trong lúc những người "ở trong", tức các nhà lãnh đạo Dân Chúa và dân thành Giê-ru-sa-lem vẫn tiếp tục ngồi trong bóng tối.

8.     Cuộc hành trình của "Ba Vua" là mẫu mực cho cuộc hành trình Đức tin của chúng ta. Trước tiên, họ là những người tìm kiếm. Một ngôi sao xuất hiện trên bầu trời đầy sao, có gì đáng cho người ta quan tâm. Đêm ấy biết bao nhiêu người đã nhìn trời, đã thấy những vì ao nhưng không thấy được vì sao của Đấng Cứu Thế như ba nhà chiêm tinh bởi vì họ không chủ tâm tìm kiếm.

9.     Chúng ta đang sống trong chế độ của Đức Tin, tức là bước đi theo các dấu chỉ. Lời Chúa là dấu chỉ, các Nhiệm Tích là dấu chỉ, Giáo Hội là dấu chỉ, dĩ nhiên là những dấu chỉ đặc biệt vừa biểu thị (diễn tả) vừa thực hiện điều nó biểu thị, nhưng vẫn là dấu chỉ. Đối với người có lòng tin, thì ngay cả các biến cố và đặc biệt là tha nhân đều là dấu hiệu của Chúa. Chỉ khi nào ta được "chiêm ngắm Chúa mặt giáp mặt" thì ta mới chấm dứt chế độ của lòng tin và lòng cậy để chỉ còn an nghỉ trong lòng mến.

10.            Những việc lớn nhỏ xảy ra hằng ngày trên thế giới, trong xã hội hay chung quanh ta, là những nơi Chúa hiển linh, những"vị trí" cho ta gặp Chúa.Chúng ta trực tiếp tham dự vào đó hay chúng ta có thể đọc những chuyện đó trên cùng một trang báo, qua cùng một đoạn phim thời sự như bất cứ ai, nhưng một người có đức tin sống động phải có thể nhìn ra trong đó những dấu chỉ về một sự nhắc bảo hay một đòi hỏi của Chúa gởi tới mình.

11.            Các thượng tế và các kinh sư thông hiểu Kinh Thánh, họ giảng giải rất hay cho vua Hê-rô-đê, nhưng họ vẫn ngồi yên tại chỗ. Họ tìm Đấng Thiên Sai trong Kinh Thánh, nhưng không nhận ra Người trong thực tế vì Người không phù hợp với những quan điểm cố định của họ. Sự thông thái của họ đã làm hại họ. Trái lại những tâm hồn đơn sơ, nghèo khó như các mục đồng, hoặc cởi mở và khao khát chân lý như các nhà chiêm tinh ngoại giáo lại được phúc nhận biết Người. Đó là bài học cho những người Ki-tô hữu nào cứ nghĩ rằng với chút ít kiến thức giáo lý và Kinh Thánh, và với nếp sống đạo quen thuộc là mình đã biết Chúa và chắc chắn thuộc về Chúa rồi.

12.            Các nhà chiêm tinh không những đã thấy ngôi sao của Đấng Cứu Thế, nhưng họ còn cất bước lên đường. Một cuộc hành trình mang tính phiêu lưu, tiến về một nơi vô định vàø đầy những khó khăn, cạm bẫy. Ngay ánh sao dẫn đường sẽ có lúc tắt ngấm, khiến họ phải đi dò hỏi và suýt nữa rơi vào tay Hê-rô-đê thâm độc. Dầu bị thử thách, họ vẫn kiên trì, để rồi cuối cùng gặp thấy vị ấu vương tìm kiếm. Đó chính là cuộc hành trình đức tin. Dẫu khó khăn chừng nào, ta vẫn tin chắc nó sẽ chấm dứt trong ánh sáng huy hoàng.

13.            Hôm nay lễ Ba Vua. Phúc Âm chỉ nhắc đến ba vị vua. Thế nhưng văn sĩ Joergernen người Ðan Mạch thì lại tưởng tượng ra một vị vua thứ tư. Vị vua thứ tư này đến chầu Chúa Giêsu sau ba vị vua khác. Triều bái Hài Nhi Giêsu nhưng mặt ông tiu nghỉu bởi vì ông không còn gì để dâng tặng Ngài. / Trước khi lên đường, ông chọn ba viên ngọc quý nhất trong kho tàng của ông, thế những dọc đường gặp bất cứ ai xin, ông cũng mang ra tặng hết. Người thứ nhất mà ông đã gặp là một cụ già rét run vì lạnh. Ðộng lòng trắc ẩn, ông đã tặng cho cụ viên ngọc thứ nhất. Ði thêm một đoạn đường nữa, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông đành mang viên ngọc thứ hai ra thương lượng với chúng để chuộc lại cô gái. Cuối cùng khi tiến vào địa hạt Bêlem, ông gặp một người lính do vua Herôđê sai đi để tàn sát các hài nhi trong một ngôi làng lân cận. Vị vua thứ tư đành phải rút ra viên ngọc cuối cùng để tặng cho người lính và thuyết phục anh từ bỏ ý định gian ác. / Tìm được Hài Nhi Giêsu, vị vua thứ tư chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình. / Nghe xong câu chuyện, Hài Nhi Giêsu mỉm cười đưa bàn tay bé nhỏ ra đón nhận quà tặng của ông. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng là tấm lòng vàng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân, nhất là những người túng thiếu, đói khổ, những người cần giúp đỡ.

14.            Mùa Giáng Sinh là mùa của những bất ngờ. Bất ngờ của một Thiên Chúa hóa thân làm người. Bất ngờ của một thiên Chúa giáng hạ trong hang súc vật. Bất ngờ sự việc những người nghèo hèn nhất trong xã hội đã nhận ra Tin Mừng. Bất ngờ của những người dân ngoại tìm đến triều bái Vua các vua. Nhưng điều khiến con người sẽ không bao giờ ngờ đến: đó là Ðấng Thiên Chúa hóa thân làm người ấy lại tự đồng hóa với mỗi một con người sinh ra trên cõi đời này, nhất là những con người bé mọn nhất trong xã hội. Ngài đã nói: tất cả những gì các người làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là các người làm cho chính Ta. Từ đây, người ta chỉ có thể gặp gỡ được Ngài qua tha nhân. Tất cả những gì người ta làm cho tha nhân là làm cho chính Ngài. Lễ dâng làm đẹp lòng Ngài nhất chính là những gì người ta trao tặng cho tha nhân, nhất là những người nghèo hèn túng thiếu hay bất cứ ai cần sự giúp đỡ.

15.            Câu chuyện Ba vua và ngôi sao lạ đã làm khơi động tính tò mò của loài người về nhiều chi tiết khác nhau. Thời nay những nhà chú giải Thánh kinh gọi Ba vua là ba nhà bác học, nhà thông thái hay hiền triết. Theo truyền thống, người ta mô tả Ba vua với ba màu da khác nhau: một ông da trắng, một ông da đen, ông kia da vàng tượng trưng cho các chủng tộc trên mặt đất. Tất cả những cuộc suy đoán về Ba vua và ngôi sao lạ có thể làm ta sao lãng cái phần thiết yếu của câu chuyện. Phần thiết yếu của câu chuyện là việc Ba vua đi tìm Đấng cứu thế mới sinh và việc Đấng cứu thế tỏ mình ra cho họ. Đây là lần đối diện đầu tiên giữa Đấng Thiên sai và thế giới ngoại đạo.

16.            Ngày lễ mừng cuộc gặp gỡ đầu tiên đó được gọi là lễ Hiển linh, có nghĩa là việc bày tỏ mình cho nhân loại. Trong ngày lễ Giáng sinh, Chúa tỏ mình ra cho người Do thái. Còn trong ngày lễ Ba vua, Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, nhân danh các vị đạo sĩ. Theo quan niệm Do thái cổ xưa, thì tất cả những ai không thuộc dòng dõi Do thái, đều là dân ngoại. Trước cái biến cố này thì đức tin vào Chúa, được giới hạn vào một dân tộc là dân Do thái. Cái thủ đô và trung tâm thờ phượng của dân tộc họ là Giê-ru-sa-lem. Trong bài trích sách tiên tri I-sa-i-a, vị tiên tri nhìn thấy trước mặt một thành Giê-ru-sa-lem mới có tính cách thiêng liêng và bao quát. Như vậy cái vương quốc mà Chúa hứa cho dân trong đạo cũ bây giờ được mở rộng ra cho các dân tộc muốn vào và ơn cứu độ được hứa cho dân riêng thì bây giờ được đến với các dân tộc. Như vậy Đấng cứu thế đến để cứu chuộc dân Chúa, Người còn là Đấng cứu thế của mọi dân tộc. Chúa đến để thiết lập một Giáo hội cho mọi dân tộc. Do ý định của Thiên Chúa, Giáo hội mở cửa cho những ai muốn gia nhập. Theo nghĩa này thì Giáo hội thuộc mọi chủng tộc, màu gia và ngôn ngữ. Và đó phải là cái đẹp của Giáo hội. Theo nghĩa này thì Giáo hội có thể ví như một vườn hoa gồm trăm hoa đua nở với muôn vàn màu sắc. Và đó là cái đẹp của Giáo hội.

17.            Trong ngày lễ hiển linh, ta cảm đội ơn Chúa đã tỏ mình ra cho dân ngoại vì ta một thời cũng là dân ngoại. Cái thái độ và mục đích của Ba vua trong cuộc hành trình tìm Chúa khiến ta cần tìm hiểu và học hỏi. Họ chân thành tìm Chúa để thờ lạy Người chứ không giả hình như vua Hê-rô-đê. Hê-rô-đê khi nghe tin Đấng cứu thế mới sinh thì bối rối sợ hãi vì sợ mất ngai vàng. Còn các nhà thông thái thì nhửng nhưng vì họ cậy họ có sẵn kho tàng thánh kinh. Họ cho rằng nếu Đấng cứu thế xuất hiện thì tự nhiên họ phải biết chứ không cần đi tìm kiếm. Cái thái độ tự mãn đó đã làm họ mù quáng không nhận ra ngôi sao lạ để đi tìm Chúa.

18.            Được rửa tội từ nhỏ, ta cũng có thể có thái độ tự mãn, giữ đạo theo thói quen hình thức mà không tiếp tục đi tìm Chúa. Ta vẫn phải tiếp tục đi tìm Chúa. Cũng như ngôi sao lạ là dấu chỉ của sự hiện diện của Chúa mới sinh, thì những sự vật trong trời đất, những kỳ công của vũ trụ như núi rừng, biển cả, sông ngòi, mặt trăng, mặt trời, tinh tú, cỏ cây hoa lá là những dấu chỉ cho thấy những dấu vết của việc Chúa hiện diện. Những biến cố thiên nhiên trong vũ trụ như sóng gió, bão táp, lụt lội, động đất cũng là những dấu chỉ về quyền năng của Chúa. Những biến cố trong đời sống như sinh tử, là những dấu chỉ có bàn tay của Thiên Chúa. Để có thể khám phá ra và cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa, ta phải biết loại bỏ những chướng ngại vật trong tâm hồn để tâm hồn được bình an và thanh thản hầu có thể nhận ra và cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Để con mắt tâm hồn được trong sáng, ta cần rửa mắt khỏi dỉ để có thể nhìn thấy ánh sáng siêu nhiên.

19.            Lời chúc dữ của tiên tri Bilơam  - Trên đường tiến về miền đất Thiên Chúa đã hứa cho các Tổ phụ, đoàn dân của ông Môsê đã phải giao tranh với nhiều lân bang thời đó, có khi chỉ vì lý do xin di ngang qua nước của lân bang mà không được chấp nhận, đành phải dùng biện pháp đánh nhau để vượt qua như khi đối đầu với dân Êmôri. Và đoàn dân nhỏ bé của ông Môsê đã không đánh thì thôi, chứ đánh là thắng làm cho các nước lân bang đều run sợ. Một trong những nước lo sợ đạo quân của Môsê đó là vua người Môáp. Chính vì lo phải đối đầu với dân Israel mà vua Môáp sai sứ đến với một phù thủy có tên là Bilơam thuộc đất dân Ammon để xin phù thủy này “trù ẻo” dân Israel để dân này ra suy yếu và vua sẽ nhân vì sự ấy tiến đánh.  / Các sứ giả vua Môáp lên đường tìm gặp phù thủy Bilơam để trao cho ông lời sấm “chúc dữ” dân Israel. Bilơam mời các sứ giả nghỉ qua đêm để ông thỉnh ý Đức Chúa. Sáng sau, Bilơam nói cùng các sứ giả rằng ông không thể làm theo yêu cầu của vua Môáp được. Nhưng đến lần thứ hai, dưới tác động của Thiên Chúa, ông chấp nhận ra đi với các sứ giả vua Môáp. / Bilơam đến miền đất dân Môáp để chúc dữ cho dân Israel trên lưng một con lừa cái và đi cùng với hai chú tiểu đồng. Trên đường đến với vua Môáp, con lừa của Bilơam thấy Thần sứ của Thiên Chúa đứng cản đường cùng với thanh gươm cầm sẵn trong tay. Thấy thế, con lừa cái bèn tránh đường đi xuống ruộng. Bilơam đánh đập con lừa và bắt nó phải đi trên đường. / Khi đến con đường mòn hai bên đều xây tường, con lừa cái khi thấy Thần sứ liền ép sát vào tường làm cho chân của Bilơam bị cọ sát trầy xước. Tức giận ông phù thủy lại đánh con lừa cách thậm tệ. Nhưng đến khi đến đoạn đường hẹp không thể nào đi được nữa vì Thần sứ chận đứng, con lừa đành phải nằm bẹp xuống chân ông Bilơam. Thấy vậy, Bilơam càng tức giận. Ông dùng gậy tới tấp đánh con lừa. Đến lúc này, con vật mới lên tiếng: “Ông thấy không, có bao giờ tôi chống ông không, tôi có làm gì ông mà ông đánh tôi đến ba lần.” Bilơam nhìn lên thì thấy Thần sứ Thiên Chúa thì run sợ. Theo hướng dẫn của Thần sứ Thiên Chúa, Bilơam đến với vua Môáp nhưng không phải để chúc dữ cho dân Israel mà là chúc phúc. / Trong bài diễn văn chúc phúc đó, phù thủy Bilơam đã tiên báo về Ngôi sao xuất hiện trong nhà Giuđa :”Một Vì Sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel” (Ds 24, 17) / Sở dĩ phải kể câu chuyện phù thủy Bilơam là vì nó liên quan đến ít nhiều Lời Chúa Chúa nhật hôm nay. Các nhà chiêm tinh Đông phương nhìn thấy ngôi sao xuất hiện và lên đường tìm kiếm. Bài Tin mừng hôm nay nhằm làm nổi bật những ý nghĩa sau: Hài Nhi mới sinh chính là vị Cứu tinh mà Israel mong đợi từ lâu. Vị Cứu tinh đó chào đời tại Bêlem như lời Ngôn sứ Mikha đã loan báo, từ Bêlem, sẽ xuất hiện một vị lãnh tụ chăn dắt dân Israel. (x. Mk 5,1) / Hài nhi Giêsu nắm giữ vương quyền phổ quát, là dấu chỉ cho dân ngoại nhìn nhận ngay khi Ngài mới chào đời. Nơi Hài nhi Giêsu, ứng nghiệm điều ngôn sứ Isaia đã loan báo khi xưa về ngày dân ngoại sẽ lũ lượt tiến về Giêrusalem, mang theo những lễ vật trân quý để tiến dâng (x. Is 60)

20.            Ba Vua là ai? - Tại Trung đông xưa, các nhà chiêm tinh hay các đạo sỹ là những nhà trí thức của thời đại, thường thuộc hàng Tư tế và làm cố vấn cho các vua. Các nhà chiêm tinh trong tin mừng đến từ vùng đất phương Đông, quê hương của phù thủy Bilơam. Các nhà chiêm tinh đó là ai? Vào thế kỷ VIII, thánh Bêđa đã miêu tả các nhà chiêm tinh như sau: - Người thứ nhất tên là Melchior. Đây là một cụ già với mái tóc trắng và chòm râu bạc phơ. Ông đến dâng cho Chúa vàng như là dấu chỉ để chân nhận Vương quyền của Chúa.- Người thứ hai tên là Gaspar. Đây là người còn trẻ, da đỏ. Ông dâng lên Chúa nhũ hương để chân nhận Thiên tính của Chúa.- Vị thứ ba tên là Balthasar. Là một người da ngăm đen, râu rậm. Ông dâng Chúa mộc dược, vì biết rằng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa mà cũng là con loài người và Ngài phải chết để cứu độ chúng ta.

21.            Ngôi sao mà các nhà chiêm tinh nhìn thấy vốn là dấu hiệu chỉ vương quyền, nó nhắc lại lời sấm chúc phúc của phù thủy Bilơam thuở xưa nói về triều đại David và về chính Đấng Mêsia. Các nhà chiêm tinh không đến viếng Chúa tay không, các ông đến để dâng lên Chúa Vàng, Nhũ hương và Mộc dược là những lễ vật quý nơi quê hương các ông. Theo các Giáo phụ, lễ vật mà các nhà chiêm tinh mang đến để dâng Chúa có những ý nghĩa sau:- Vàng chỉ Vương quyền (Vua) của Chúa- Nhũ hương chỉ Thiên tính của Chúa- Mộc dược chỉ Nhân tính của Chúa.

22.            Hai thái độ khác nhau - Mừng lễ Chúa Hiển linh, phải chăng đó là dịp để mỗi người trong chúng ta một lần nữa nhận ra sự đối kháng rõ rệt giữa thái độ thờ ơ và thù nghịch của dân Dothái đối với Hài nhi và lòng tin mau mắn cách quảng đại của dân ngoại. Các thượng tế và kinh sư vốn nắm vững Kinh thánh và lời các Ngôn sứ mà không nhận ra Đấng Cứu Thế; trái lại những người ngoại đạo lại nhìn nhận dấu chỉ của Người và lên đường kiếm tìm để thờ lạy. Lên đường tìm kiếm Chúa và thờ lạy Ngài không phải là việc của một dân tộc, một màu da, một nền văn hoá mà là của toàn thể thế giới đại đồng.

23.            Câu tuyện gây ấn tượng cho những người theo Chúa - Đã hơn hai ngàn năm, câu chuyện ba nhà đạo sĩ Đông Phương hay nói nôm na ra ba vua dõi theo ánh sao lạ tới hang Bêlem để triều bái Hài đồng Giêsu luôn gây ấn tượng cho những người theo Chúa. Mà không ngạc nhiên, không lạ lùng sao được khi trên trời cao có một ánh sao bỗng hiện ra dẫn đường chỉ lối cho ba nhà đạo sĩ Đông Phương tới cung chiêm vua Giêsu bằng những tặng vật quí gia của địa phương nước mình. Cái lạ lùng là ánh sao không dẫn đường cho Hêrôđê hay quân lính của ông ta tới tìm giết Giêsu. Chính cái lạ ấy đã gây sự tò mò của nhiều người qua nhiều thế hệ. Câu chuyện ba vua có gì lạ ? Nó có liên hệ gì với đời sống nhân loại, với cá nhân mỗi người chúng ta ?

24.            Ba Vua trong trình thuật Tin Mừng - Đọc trình thuật của thánh sử Matthêu 2, 1-12, nhân loại như vẫn còn nhớ rõ mồn một rằng vào thời Hêrôđê trị vì, Chúa Giêsu đã theo ý định của Chúa Cha được Mẹ Maria sinh ra nơi hang đá Bêlem. Lúc bấy giờ, rất ít người biết đến biến cố này, ngoại trừ các mục đồng, các kẻ chăn chiên giữa đêm khuya như có một sức mạnh nào đó thúc đẩy, đã xôn xao, xáo xác nửa tỉnh nửa ngủ vì muôn cơ binh thiên thần đang rợp tiếng tung hô vua Giêsu giáng sinh làm người. Và rồi thiên thần không những chỉ tung hô, ca ngợi, nhưng chính sứ thần Thiên chúa đã hiện ra với các mục đồng, loan báo cho họ tin vui mừng vì nơi Bêlem, miền Giu-đê, Đấng cứu thế đã sinh ra. Các mục đồng quả mở cờ trong bụng vì rằng trong cơn ngái ngủ, họ đã hối hả đi về Bêlem, tới nơi họ đã gặp Mẹ Maria, thánh cả Giuse và Hài Đồng Giêsu. Họ đã thờ lạy Chúa Giêsu. Câu chuyện không kết thúc ở đó…Nhưng các mục đồng ra về, vừa đi vừa ca tụng tôn vinh Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ( Lc 2, 20 ).Trình thuật của Luca còn được thánh Matthêu gây ngạc nhiên hơn nữa khi thánh sử Matthêu kể lại sự việc ba nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giêsu tại Bêlem. Tin mừng Matthêu đoạn 2, 2 viết: ” Đức vua dân Do Thái mới sinh, hiệnn ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông nên chúng tôi đến bái lạy Người”. Tin mừng viết tiếp: ” Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem xôn xao”( Mt 2, 2 ). Và rồi con người nham hiểm của Hêrôđê đã lòi chân tướng. Ông liền triệu tập tất cả các thượng tế, các kinh sư trong dân lại, và hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu( Mt 2, 4 ). Họ trả lời:” tại Bêlem, miền Giuđê…”( Mt 2, 5 ). Hêrôđê, một vị vua độc ác đã có cái nhìn trần tục về Chúa Giêsu, nên Ông ngầm tìm cách thủ tiêu Chúa Giêsu và lừa các nhà chiêm tinh để biết nơi Hài Đồng Giêsu ở hầu dễ thanh toán Chúa Giêsu. Nhưng các nhà đạo sĩ đã biết mưu đồ của Hêrôđê, nên khi ngôi sao lạ ở Phương Đông lại dẫn đường ba nhà đạo sĩ đi tìm Giêsu và dừng lại nơi Hài Nhi ở( Mt 2, 9 ). Ba nhà đạo sĩ sung sướng, vui mừng vì thấy lại ngôi sao lạ. Các nhà đạo sĩ vào nhà, thấy hài nhi và thân mẫu là bà Maria, họ liền sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến( Mt 2, 11 ). Các nhà đạo sĩ đã được mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, nên đã đi lối khác mà về xứ mình(Mt 2, 12 ). Quả thực ngôi sao lạ đã dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ phương Đông tới triều yết vua Giêsu, nhưng không bao giờ ngôi sao lạ này đã hiện ra với vua Hêrôđê độc ác…

25.            Trung thành đi theo ánh sáng - Ba nhà đạo sĩ cứ theo ánh sao mà tới gặp Chúa Giêsu. Cái quý giá nhất các nhà đạo sĩ có được là họ trung thành với ánh sáng đã nhận được từ trên cao:" Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Ngài bên phương Đông, và chúng tôi đến bái yết Ngài” ( Mt 2, 2 ).Ngôi sao lạ vẫn hiện ra sáng rực trên trời thẳm và chỉ ba nhà đạo sĩ mới có thể nhìn ra vì họ được ơn soi sáng. Và như một câu chuyện nhỏ mà một đức bé gái đơn sơ, đã hoàn toàn vâng theo lời của mẹ mình rằng đừng tìm Chúa trong những công việc vĩ đại, Chúa đang có đó trong hơi thở, trong cử động, trong nụ cười, trong ánh mắt, trong cung cách đi đứng, đừng tìmChúa trong những gì cao sang khó với, nhưng Chúa đang có đó trong những việc nhỏ bé, trong những sự kiện tầm thường. Vâng, ngôi sao là chính Đức Kitô, là ý muốn của Ngài. Nhân loại không nhận ra ngôi sao lạ vì con người vẫn còn sống trong ích kỷ, tối tăm, lòng tin yếu kém. Gặp được ánh sao hay ngôi sao lạ, nhân loại phải liều lĩnh như ba nhà đạo sĩ là ra khỏi sự dễ dai, thích tiện nghi, hưởng thụ.Nhân loại chỉ có thể tìm gặp Chúa Giêsu khi gắn liền với Mẹ Maria vì Mẹ còn có sứ mạng lớn lao là giới thiệu Chúa Kitô cho nhân loại, cho mọi người, cho mỗi người. Các nhà đạo sau khi đã gặp được Hài Đồng Giêsu, họ vui mừng lấy ra những món quà cao quí của đất nước mình:vàng, nhũ hương và mộc dược.Nhân loại vẫn có thể dâng cho Chúa những gì quí giá nhất của mình là con tim, lời cầu nguyện và hy sinh để làm vinh danh Chúa. Chúa đã tỏ mình ra cho nhân loại. Chúa muốn mọi người nhận biết Ngài.

26.            Ý nghĩa bài Đọc Is 60,1-6: * “Sách Isaia là cuốn sách ngôn sứ lớn nhất. Sách gồm ba phần thuộc ba thời kỳ khác nhau. Isaia 56-66 gọi là Isaia đệ tam, có lẽ là một bộ sưu tập lời rao giảng của nhiều vị ngôn sứ trong thời kỳ từ lúc xây xong đền thờ mới (515 trước CN) cho đến 445 trước CN. Khi Nơkhêmia hoàn tất việc trùng tu tường thành, dân chúng chán nản vì thấy đền thờ mới quá khiêm tốn, đời sống kinh tế chẳng khá gì, đời sống đạo đức cũng chẳng hơn xưa: vẫn đầy áp bức bóc lột, thối nát. Các ngôn sứ củng cố niềm tin của cộng đồng Do Thái hồi hương” (Kinh Thánh trọn bộ, Dẫn nhập Cựu ước, trang 28-29).  / Is 60, 1-6: là một đoạn văn đầy phấn chấn và hoan lạc vì tác giả nói về ngày vinh quang của Thiên Chúa chiếu tỏa trên thành thánh Giêrusalem và trên dân tộc Ítraen nhỏ bé. Đó là ngày Thiên Chúa đến ngự trong đền thờ và giữa lòng dân. Mọi chuyện thay đổi một cách kỳ diệu và Giêrusalem sẽ là trung tâm của hoàn vũ: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông… Nguồn giầu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Epha: tất cả những người từ Sơvađến, đều mang theo vàng với trầm hương và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” / Tất cả những điều ngôn sứ nói trên không thể chỉ được hiểu theo nghĩa đen của các từ, các chữ. Vì nếu chỉ được hiểu theo nghĩa đen thì quang cảnh huy hoàng ấy cũng chẳng đáng là bao, so với sự giầu sang, lộng lẫy của các đền đài vua chúa hay phủ tổng thống hay bản doanh của các nhà tài phiệt, các vua dầu lửa ngày nay. Chúng ta phải hiểu những điều ấy theo nghĩa bóng, nghĩa tâm linh.

27.            Ý nghĩa Bài đọc Ep 3,2-3a.5-6: * Thánh Phaolô truyền đạt cho các tín hữu E-phêsô một điều cực kỳ quan trọng và bất ngờ: đó là “Trong Đức Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” Thánh Phaolô gọi đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa và nói rõ hơn: “Mầu nhiệm này Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Người.”

28.            Bài Tin Mừng: Mt 2,1-12: Là tường thuật của Mátthêu về việc ba nhà chiêm tinh từ Phương Đông tìm đến Giêrusalem để nhìn nhận và bái thờ Vua dân Do Thái mới sinh ra. Sở dĩ họ biết được biến cố trọng đại này là vì họ nghiên cứu các hiện tượng của thiên nhiên như là các nhà thiên văn học. Nhưng sỡ dĩ họ đọc ra dấu hiệu (hay dấu chỉ) là vì họ được Thiên Chúa soi sáng trong lòng: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”. / Khi tường thuật câu chuyện trên, Phúc âm Mátthêu làm nổi bật cảnh xôn xao, thắc mắc và lo sợ của vua Hêrôđê và thành Giêrusalem. Phải nhờ đến sự am tường Thánh Kinh Cựu Ước của các thượng tế và kinh sư họ mới biết được nơi Đức Kitô (tức Đấng được xức dầu tấn phong Vua) sinh ra:“Tại Bêlem vì miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời.” / Vì ngộ nhận “Vua dân Do Thái mới sinh ra” mà các nhà chiêm tinh đang tìm kiếm là nhân vật sẽ tranh giành ngai vàng với mình nên vua Hêrôđê nhanh chóng biết mình phải xử sự thế nào để tránh hiểm họa sau này: “Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến hỏi cặn kẽ với ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: “Xin quí ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” Thật ra vua Hêrôđê không hề có ý đến bái lạy “Vua dân Do Thái mới sinh ra” mà có ý đồ giết hại “Vua mới sinh ra” ấy. Chính vì thế mà Thiên Chúa đã can thiệp để các nhà chiêm tinh không bị mắc lừa và Hài Nhi Giêsu không bị Hêrôđê ám hại. / Trở lại với các nhà chiêm tinh: Sau khi từ giã vua Hêrôđê để tiếp tục lên đường tìm kiếm, họ lại được thấy ngôi sao và nhờ ngôi sao dẫn đường ấy, họ đã tới tận nơi Hài Nhi đang ở. Họ gặp Hài Nhi và Mẹ Người là Đức Maria. Họ sấp mình thờ lạy Người và tiến dâng lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược là những vật phẩm quí giá và phù hợp với cương vị vua chúa. Họ hân hoan ra về dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

29.            Thiên Chúa hiển linh là các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” * Đó là ý nghĩa cốt yếu nhất của Lễ Hiển Linh. Nếu ngày hôm nay thánh Phaolô viết lại những điều thì chắc ngài sẽ không viết: … “cùng thừa kế với người Do Thái……” mà sẽ viết “cùng thừa kế với người Công giáo” vì người Công giáo nói riêng và người Kitô hữu nói chung đã thừa kế gia sản và lịch sử của người Do Thái. Dân riêng (dân Do Thái) đã mở rộng thành Dân Thiên Chúa bao gồm mọi dân tộc trên trái đất này, không phân biệt mầu da, chủng tộc, ngôn sứ, văn hóa, trình độ văn minh hay kỹ nghệ.

30.            Mng Lễ Hiển Linh một cách “chính thống” nhất là chúng ta phải hướng lòng, hướng suy nghĩ và hành động của mình và của cộng đoàn về những người ngoại, về các dân ngoại. Điều này hết sức phù hợp với tinh thần và đường hướng mục vụ của Năm Truyền Giáo vừa được tôn lên thành Năm Thánh Truyền Giáo của Giáo hội Việt Nam. Trong số 80 triệu người sống trên đất nước này thì chỉ có khoảng 6-7% là người Công giáo và Tin Lành. Tin Mừng đã được cha ông chúng ta tiếp nhận cách đây khoảng 470 năm, một thời gian đã khá dài. Hơn nữa chúng ta còn có thể nói rằng: mảnh đất hình chữ S thân thương này đã thấm ướt máu đào của các thánh và các anh hùng Tử Đạo. Thế nhưng trong số những người Công giáo và Tin Lành Việt Nam hỏi được bao nhiêu phần trăm là các tín đồ xác tín, nhiệt thành, dấn thân? Và trong xã hội ta hiện nay nổi cộm tình trạng gia đình tan vỡ, gia đình rối và tình trạng bỏ đạo nhất là ở giới trẻ. Bên cạnh đó là các tệ nạn xã hội như đĩ điếm, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn gian bán lận, tham nhũng hối lộ… càng ngày càng lan rộng và làm nhiều người, nhiều gia đình điêu đứng, khốn khổ, nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bị băng hoại. Đó là những thách thức lớn đối với người và cộng đoàn Kitô giáo. Đó là các môi trường và những con người đang trông chờ Chúa đến và đang cần được Người biến đổi và cứu độ. / Các nhà chiêm tinh Phương Đông đã nhờ ngôi sao lạ của “Vua dân Do Thái mới sinh ra” tức của Hài Nhi Giêsu, mà đến được Bêlem và gặp được Hài Nhi Giêsu cùng Mẹ Người là Bà Maria. Cũng thế hơn 70 triệu người Việt Nam nói riêng và hằng trăm triệu người châu Á nói chung sẽ chỉ nhận ra Đức Giêsu là Cứu Chúa nếu mỗi người Công giáo Việt Nam là một SAO dẫn đường chỉ lối chỉ cho họ. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã hơn một lần nhắc nhở chúng ta là con người thời nay trông chờ (và tin tưởng) các chứng nhân hơn là các thày dạy, vì có nhiều thày dạy lại dạy một đàng mà sống một nẻo, thậm chí sống ngược lại những điều họ giảng dạy, chẳng khác gì các Biệt phái Pharisêu thời Chúa Giêsu. Trong cụ thể, chỉ khi người Kitô hữu sống tinh thần Bát Phúc, sống yêu thương, trách nhiệm, công bình, thanh liêm, hy sinh, phục vụ tha nhân và ích chung thì mới trở thành SAO trên bầu trời và trong cộng đồng con người được. Nói cách khác là chỉ khi nào chúng ta để cho Thiên Chúa hiển linh trong tâm hồn và đời sống của mình thì chúng ta mới là SAO của Người. / Để trở thành SAO: Bạn sửa sai hay tăng cường một lối sống nào đó của bạn để người khác nhìn vào bạn mà nhận ra Chúa. Nói cách khác “Bạn hãy cho thấy mình là người có đức tin. Đức tin được diễn tả qua hành động yêu thương cụ thể, và yêu thương lại làm cho đức tin lớn lên” (Manna năm C)

31.            Kế hoạc lạ lùng của Chúa - Khi vừa sinh ra ở máng cỏ trong hang Bethlehem, Chúa tỏ mình ra cho các mục đồng, những con người đơn sơ, hèn mọn. Nhưng kế hoạch của Ngài quá lạ lùng, ít ai có thể ngờ đến: đó là một số các nhà khoa học (mà còn quen gọi là đạo sĩ hay 3 vua) cũng được Thiên Chúa mạc khải. Họ đã lặn lội, vượt biết bao hiểm nguy, tìm đến nơi để triều bái và dâng tiến các lễ vật đầy ý nghĩa lên Ngài. Chúng ta cùng tìm hiểu biến cố hết sức quan trọng này. / Hôm nay Giáo Hội kể lại biến cố ba nhà thông thái tìm đến để triều bái Chúa Hài Đồng ( “Magi” có nghĩa là những nhà khoa học kinh nghiệm (Mature Scientists), họ là những chiêm tinh gia và những nhà thiên văn). Họ đến từ phương đông, dĩ nhiên họ không phải là người Do Thái. Và chỉ hỏi có hai câu :”Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.”

32.            Thiên Chúa mạc khải cho Ba Vua - Có nhiều người cho rằng có lẽ các khoa học gia này đã nhìn thấy sao chổi, và đi theo. Nhưng năm 1603, nhà toán kiêm thiên văn Johannes Kepler giải thích theo tài liệu cho thấy vào thời điểm ấy, cả ba hành tinh : Hỏa, Mộc và Thổ tinh rất gần nhau, đồng thời xếp thẳng một hàng. Bởi thế các nhà khoa học với mắt thường đã nhìn thấy một ngôi sao rất to và sáng. Nhưng điểm muốn nhấn mạnh ở đây, là tại sao các nhà thông thái biết chắc chắn là vua Do Thái đã sinh ra (chúng ta biết rằng các nhà khoa học không bao giờ hấp tấp hay kết luận một cách hồ đồ). Phải chăng các ngài đã được Thiên Chúa mạc khải? / Vì được Thiên Chúa mạc khải nên các ngài đã hăng hái lên đường, bỏ lại tất cả, bất chấp mọi hiểm nguy, đi mà không biết nơi đến. / Chúng ta thử tưởng tượng khi gặp vua Hêrôđê, đương kim Hoàng đế mà dám hỏi “Vua dân Do Thái mới sinh ra ở đâu?”, trong khi mình là người nước ngoài, chỉ riêng tội nhập cảnh tùy tiện này là có thể bị tống ngục rồi, chứ đừng nói đến tội “khi quân”. Thế mà các ngài đã không sợ hãi, tại sao vậy ? / Ai ban cho các ngài sự can đảm phi thường này? Ai trang bị cho các ngài tinh thần từ bỏ chỉ dành riêng cho các môn đệ này? Rồi khi trở về quê hương của mình, với tài năng và uy tín của các ngài, ai dám không tin điều các ngài đã chứng kiến tại Bethlehem!

33.            Những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu trong Dân Ngoại - Chúng ta không thể chối cãi đức Maria, mẹ của Thiên Chúa là người môn đệ đầu tiên của Chúa, thì chúng ta cũng có thể nghĩ rằng các nhà khoa học hôm nay cũng là những môn đệ dân ngoại đầu tiên của Chúa. Vì chính các ngài đã gặp được Chúa rồi đem Chúa đến cho ngưới khác. Khi vào nhà, thấy Hài nhi họ liền sấp mình thờ lạy và dâng tiến vàng, nhũ hương, và mộc dược. Cả ba tặng vật này đều quý giá và có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất : vàng, tượng trưng cho hoàng gia, quý tộc. Điều này chứng tỏ Ngài là vua, là kẻ có uy quyền trên nhân loại. Thứ hai : nhũ hương, tượng trưng cho lòng sùng kính dành cho Thượng đế, nói cách khác là công nhận Thiên Tính của Ngài. Thứ ba : mộc dược : dùng để tẩm, liệm xác chết. ý nói rồi đây Ngài cũng sẽ chết, vì ngài là con người. Như thế vàng, nhũ hương và mộc dược là biểu tượng của Thiên Chúa, vương quyền, và con người.

34.            Ý nghĩa của các lễ vật do Ba Vua dâng - Chúng ta cũng có thể định nghĩa rằng; Vàng là kim loại quý, tượng trưng cho sự quyền quý, giàu sang, vua chúa. Khi dâng tiến vàng tức là công nhận Ngài là Vua của Thiên quốc nơi Ngài ngự trị, Ngài là vua trên mặt đất, vì tất cả đều là tạo vật của Ngài, và là vua của tất cả các linh hồn, vì ở đó ân sủng của Ngài hiện diện. Hiểu theo linh đạo Kitô giáo thì vàng cũng là biểu tượng của lời thề “ nhân đức khó nghèo ”. Dâng tiến Nhũ hương tức là công nhận Thiên tính của Chúa Kitô. Nó cũng là biểu tượng của “ nhân đức vâng lời ”. Dâng tiến mộc được tức là công nhận nhân tính của Chúa Kitô. Xác chết sẽ được liệm với mộc dược. Nó cũng là biểu tượng của “ nhân đức trong sạch”.

35.            Chúa tỏ mình ra cho tất cả nhân loại - Biến cố hôm nay cho chúng ta thấy một hài nhi nhỏ bé, đang nằm trong máng cỏ, nhưng đã làm cho một ông vua hung hãn trên trái đất phải run sợ. Khiếp sợ đến nỗi phải sử dụng một biện pháp vô cùng độc ác “thà giết lầm hơn bỏ sót” : ra lệnh giết tất cả con trai từ hai tuổi trở xuống ! -trung bình một vùng có khoảng 1000 dân cư, thì vào khoảng 30 trẻ em vô tội bị giết- Như vậy, ngày Ngài trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết tình cảnh sẽ ra sao ? / Thứ hai, khi sinh ra Ngài đã tỏ lộ cho dân Do Thái và các dân tộc khác nữa, Ngài cũng đã tỏ lộ cho kẻ ngu dốt cũng như những nhà thông thái. Hay nói cách khác Ngài nhập thể để Cứu Độ cho toàn thể nhân loại, không trừ một sắc tộc, quốc gia hay bất cứ một người nào. / Tóm lại, khi đến trong thế gian Chúa đã tỏ lộ cho ba hạng người tiêu biểu cho cả nhân loại : trước hết là các mục tử đơn sơ, nghèo nàn : loại người này tượng trưng cho các Tông đồ, và Linh mục trong Giáo Hội Công Giáo. Kế đến là những nhà thông thái, giàu có, quảng đại : họ tượng trưng cho dân ngoại; thứ ba là Ông Simion công chính : tượng trưng cho dân tộc Do Thái.

36.            Bài học của Ba Vua - Các nhà thông thái đã dâng tiến Chúa những thứ quý giá như vàng, nhũ hương và mộc dược, còn phần chúng ta -những chi thể của Chúa- phải dâng tiến Chúa gì đây ? Một vị Giáo Hoàng đã nói : ”Thiên Chúa trở thành người, để con người có thể trở thành Thiên Chúa” Đúng là một hiện thực đáng sợ nhưng đầy thú vị. Ngày lễ Hiển Linh hôm nay là thời gian để chúng ta tạ ơn Chúa, không phải chỉ vì Chúa đã nhập thể và tỏ mình cho nhân loại. Hơn thế nữa, chúng ta vui mừng vì Ngài tiếp tục ở lại với mỗi người. Chúng ta có nhiệm vụ tiếp tục công việc làm tỏ lộ dung mạo của Thiên Chúa cho nhân loại, bởi vì chúng ta cùng thông chia sự sống của Ngài. Chúng ta phải làm cho khuôn mặt của Ngài càng ngày càng tỏ hiện; phải viết tiếp câu chuyện của “Ba nhà đạo sĩ”; và tiếp bước các ngài : qua chính cuộc sống của mỗi người chúng ta. Ngày xưa các nhà thông thái đã từ bỏ tất cả và lên đường tìm Chúa cho bằng gặp mới thôi. Hai ngàn năm sau, hôm nay ước gì chúng ta cũng học tập, bắt chước nhân đức khôn ngoan, can đảm, cương quyết, khiêm tốn và từ bỏ như các ngài.

37.            Chỉ có ai thao thức đi tìm Chúa, mới gặp Chúa - Lễ Hiển Linh tức là lễ Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại. Đại diện cho dân ngoại là ba nhà đạo sĩ phương Đông. Ba ông nhận ra ánh sao trên bầu trời và vội vã lên đường đi tìm Con Thiên Chúa vừa giáng sinh. Gọi là Thiên Chúa tỏ mình, nhưng sự tỏ mình qua một ánh sao vẫn cho thấy Thiên Chúa là một huyền nhiệm lớn lao vô cùng. Dẫu ngôi sao trên bầu trời có lạ thường đến đâu, có sáng chói đến mức độ nào, thì sự tỏ mình ấy vẫn mù mờ, vẫn xa xăm đối với nhận thức của con người. Bởi đó, chỉ có ai thao thức tìm kiếm Thiên Chúa, chỉ có trung thành sống đức tin mới có thể nhận ra Thiên Chúa đang tỏ mình với cuộc đời nói chung và cuộc đời của chính mình nói riêng. Thiên Chúa đã tỏ mình, nhưng tự bản chất, Ngài là một huyền nhiệm, nên để nhận ra sự tỏ mình của Thiên Chúa, mãi mãi vẫn cần một điều kiện. Điều kiện đó là lòng thao thức tìm kiếm Thiên Chúa và sống đức tin trung thành. Có như thế, ta mới có thể nhận ra Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời ta dẫu là sướng vui hay hạnh phúc. / Nói đơn giản: Thiên Chúa vẫn đang hiện diện và luôn luôn tỏ mình, chỉ cần bạn thao thức tìm kiếm Ngài và trung thành sống đức tin, bạn sẽ nhận ra Ngài. Ba nhà đạo sĩ đã lên đường tìm kiếm. Bạn cũng sẽ nhận ra Thiên Chúa tỏ mình bằng đời sống đức tin, bằng sự cầu nguyện, bằng tình yêu mà bạn hiến dâng cho Ngài.

..................................

Mục Góp Ý Suy Niệm thu lượm...

 

.: Trang tin của Tổng Giáo Phận Huế - Phụ trách: LM. Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang :.
Địa chỉ: 69 Phan Đình Phùng - Huế - Việt Nam - Tel: 84.54.3831967

Email: tonggiaophanhue@gmail.com hoặc envgioang@gmail.com - Website: http://tonggiaophanhue.net

Copyright © 2009 TRANG TIN ĐIỆN TỬ CỦA TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ. All Rights Reserved.