Ủy ban Giáo dân – Tháng 02.2026: Bài 2 – Đồng hành với những người rời xa cộng đoàn

08/02/2026

Ủy ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam

Ban Nghiên Huấn

**********

THƯỜNG HUẤN GIÁO DÂN THÁNG 02/2026

BÀI 2 – ĐỒNG HÀNH VỚI NHỮNG NGƯỜI RỜI XA CỘNG ĐOÀN

Đức Thánh cha Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium đã nói: “Trong một nền văn hoá đầy nghịch lý giữa sự đau khổ vì không được ai biết đến và đồng thời bị ám ảnh vì các tình tiết trong cuộc đời của những người khác khiến chúng ta rơi vào thái độ tò mò bệnh hoạn và đáng xấu hổ, Hội thánh phải nhìn người khác bằng đôi mắt thân tình và thiện cảm hơn. Trong thế giới chúng ta, các mục tử có chức thánh và các nhà hoạt động mục vụ khác có thể hiện thực hoá hương thơm sự gần gũi và cái nhìn thân mật của Đức Kitô. Hội thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người – linh mục, tu sĩ, và giáo dân – vào trong “nghệ thuật đồng hành” này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác (x. Xh 3,5). Bước chân đồng hành này phải có nhịp đều và vững vàng, phản ánh thái độ gần gũi và cái nhìn cảm thông của chúng ta, giúp chữa lành và khích lệ sự tăng trưởng trong đời sống Kitô giáo”[1]. Và việc đồng hành thiêng liêng được coi là hành vi phúc âm hóa trong nỗ lực củng cố hoặc làm sống lại đời sống đức tin, “Chẳng hạn giữa cộng đoàn nhân loại mà họ đang sống, một Kitô hữu hay một nhóm Kitô hữu, biểu lộ khả năng cảm thông và đón nhận, chia sẻ đời sống và số phận với những người khác, tỏ tình liên đới trong những nỗ lực chung nhằm đạt được những gì là cao qúy và tốt đẹp nhất”[2]. Đặc biệt, việc đồng hành thiêng liêng với “những người đã chịu phép rửa nhưng không hành đạo”, “những người sống trong cộng đoàn Kitô hữu nhưng lại không hề theo những nguyên tắc Kitô giáo” cũng là yêu cầu cấp bách trong công việc loan báo Tin mừng mà ơn gọi Bí tích Rửa tội yêu cầu.

1. Ai là những người được coi là rời xa cộng đoàn

Những người rời xa cộng đoàn không phải là những người hoàn toàn đánh mất đức tin. Họ là những người có thể là:

– Những người rời xa thực hành đức tin, chẳng hạn họ không còn tham dự Thánh lễ Chúa nhật hoặc các sinh hoạt phụng vụ, không lãnh nhận các bí tích (Hòa giải, Thánh Thể…) trong thời gian dài, hoặc không còn quan tâm đến việc cầu nguyện cá nhân

– Những người ở trong tình trạng bất hòa hoặc bị loại trừ, chẳng hạn những người cảm thấy bị tổn thương vì bị xúc phạm, bị xét đoán hay không được đón nhận; Người sống trong các hoàn cảnh hôn nhân – gia đình phức tạp như rối vợ rối chồng …; Người từng có xung đột với linh mục chánh xứ, hội đoàn hoặc cơ cấu giáo xứ.

– Những người tin nhưng không thuộc về: tự nhận mình là Công giáo nhưng không sống gắn bó với giáo xứ hay với cộng đoàn, chủ trương “giữ đạo tại tâm” không cần phải giữ một hình thức tôn thờ nào.

– Những người bị đẩy ra bên lề vì hoàn cảnh xã hội, chẳng hạn người nghèo, người lao động nhập cư, người nghiện ngập, người từng ở tù, người khuyết tật, người cao tuổi bị cô lập, người trẻ cảm thấy Giáo hội “không có chỗ cho mình”.

– Những người bị khủng hoảng đức tin hoặc nghi ngờ sâu sắc, chẳng hạn những người bị tác động bởi gương xấu, tai tiếng, hoặc đau khổ cá nhân; những người trải qua những mất mát, bất công mà không tìm được lời giải thích thỏa đáng; những con người không còn thấy ý nghĩa của phụng vụ hay giáo huấn của Giáo hội.

Thánh Giáo hoàng Phaolô VI nói đến những người rời xa cộng đoàn như sau: “Đó là những người không sống đạo, hiểu một cách rộng rãi, rất nhiều người đã được rửa tội và mặc dù không minh nhiên chối bỏ phép rửa của mình, nhưng lại hoàn toàn ở bên lề của nó và không sống nó nữa. Hiện tượng những người không sống đạo đã có từ xa xưa trong lịch sử Kitô giáo. Nó được coi như một yếu đuối tự nhiên, như một sự rã rời sâu xa mà chúng ta mang trong thâm tâm mình. Nhưng ngày nay, hiện tượng đó có những đường nét mới mẻ. Nguyên do thường ở chỗ mất gốc, nhất là đối với thời đại chúng ta. Nó cũng phát sinh từ sự kiện các Kitô hữu phải thường xuyên tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của những người vô thần. Vả lại, những người không sống đạo ngày nay hơn những người xưa, tìm cách giải thích và biện minh lập trường của mình, nhân danh một lối sống đạo nội tâm, nhân danh một lối sống tự trị và trung thực của cá nhân… Những người không sống đạo thì lại chống đối một cách bất đồng với thái độ hơi thù nghịch của những người cảm thấy quá quen thuộc như ở nhà mình, họ quả quyết đã biết tất cả, đã nếm tất cả nên không tin tưởng vào đó nữa. Sự bỏ đạo xuất hiện nơi người lớn và thanh niên, nơi hạng ưu tú và giữa đám quần chúng, trong mọi lãnh vực văn hóa, trong các Giáo hội già cũng như Giáo hội trẻ”[3] .

2. Người môn đệ thừa sai thi hành sứ vụ đồng hành thiêng liêng

Sứ vụ của người môn đệ thừa sai không chỉ là hướng tới những người chưa nhận biết Chúa, nhưng còn nhìn đến những con người xa rời cộng đoàn để lên đường tìm kiếm, như dụ ngôn tìm con chiên lạc (x. Mt 18,12–14; Lc 15,3–7). Trong sứ điệp gửi đến hội thảo về chủ đề “Truyền giáo với các gia đình ngày nay và tương lai” ngày 02/6/2025, Đức Thánh cha Lêô XIV nhấn mạnh rằng cần phải quan tâm đặc biệt tới những gia đình “xa cách nhất về mặt tâm linh”, những người vì nhiều lý do khác nhau không cảm thấy mình được tham gia hoặc cảm thấy bị loại trừ khỏi các hoạt động của Giáo hội, nhưng vẫn mong muốn trở thành một phần của cộng đồng, và ngài mời gọi các tín hữu tham gia vào công việc của toàn thể Giáo hội trong việc tìm kiếm những người không còn đến với chúng ta nữa, học cách đồng hành với họ và giúp họ đón nhận đức tin. Ngài nhắn nhủ các tín hữu đừng vội đưa ra câu trả lời cho những câu hỏi đầy thách thức nhưng phải đến gần hơn, cố gắng hiểu những cách để vượt qua khó khăn, “cũng sẵn sàng cởi mở, khi cần thiết, với những tiêu chuẩn đánh giá mới và những cách hành động khác nhau, bởi vì mỗi thế hệ đều khác nhau và có những thách thức, ước mơ và câu hỏi riêng”.[4]

Giáo hội Chúa Kitô được thiết lập nhằm lên đường đi tìm chứ không chờ đợi, nói như Đức Phanxicô: Giáo hội Chúa Kitô là Hội thánh đi ra, Hội thánh “đi ra” là một cộng đoàn các môn đệ truyền giáo đi bước trước, dấn thân và nâng đỡ, sinh hoa trái và vui mừng. Một cộng đoàn loan báo Tin mừng biết rằng Chúa đã có sáng kiến, Ngài đã yêu chúng ta trước, và vì thế chúng ta có thể dấn bước, mạnh dạn có sáng kiến, đến với người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đứng ở các ngả đường để đón mời những người bị gạt ra bên lề. Một cộng đoàn như thế có một ước muốn khôn nguôi là tỏ lòng thương xót, kết quả của kinh nghiệm bản thân của cộng đoàn về sức mạnh lòng thương vô biên của Thiên Chúa.”[5]

Vì thế hoạt động truyền bá Tin mừng của Giáo hội không thể bỏ qua những người rời xa Giáo hội “mà không đối diện với họ, phải kiên trì tìm ra những phương thế và ngôn ngữ thích hợp để dẫn giải cho họ hoặc trình bày lại cho họ mặc khải của Thiên Chúa và niềm tin vào Đức Giêsu Kitô”[6]. Sứ vụ loan báo này ngày nay gọi là đồng hành thiêng liêng qua những cuộc gặp gỡ thân tình để người sống xa rời có thể tiếp cận được những chứng tá đức tin sống động. Vì thế, những người đồng hành thiêng liêng phải là “những người thành thạo trong các tiến trình đòi hỏi sự thận trọng, cảm thông, kiên nhẫn và ngoan ngoãn vâng nghe Chúa Thánh Thần, để họ có thể bảo vệ chiên khỏi sói dữ làm tan tác đàn chiên. Chúng ta cần phát triển nghệ thuật lắng nghe, chứ không chỉ là nghe suông. Trong lãnh vực truyền thông, lắng nghe là sự mở lòng để có được thái độ gần gũi mà thiếu nó thì không thể có sự gặp gỡ thiêng liêng. Lắng nghe giúp chúng ta tìm ra cử chỉ và lời nói thích hợp để chứng tỏ chúng ta không chỉ là những khách qua đường. Chỉ khi có thái độ lắng nghe với lòng tôn trọng và cảm thông, chúng ta mới có thể bước vào con đường tăng trưởng đích thực và đánh thức một khát vọng về lý tưởng Kitô giáo”[7].

Từ việc chỉ dẫn này, người đồng hành thiêng liêng trước tiên phải là chứng tá, điều đó có nghĩa là người đó “biểu lộ khả năng cảm thông và đón nhận, chia sẻ đời sống và số phận với những người khác, tỏ tình liên đới trong những nỗ lực chung nhằm đạt được những gì là cao quý và tốt đẹp nhất.” “Họ chiếu tỏa niềm tin của mình nơi những giá trị vượt xa những giá trị thông thường, niềm trông cậy vào điều mà người khác không thấy và có lẽ không dám mơ tưởng tới.”[8] Người đồng hành thiêng liêng phải thể hiện sự hiện diện, sự chia sẻ và tỏ bày tình liên đới. Đức Phanxicô còn chỉ rõ: “Ai đồng hành với người khác cần hiểu rằng mỗi tình huống của một cá nhân trước mặt Chúa và đời sống trong ân sủng của họ là những mầu nhiệm mà không một ai có thể hiểu đầy đủ từ bên ngoài. Tin mừng dạy chúng ta sửa lỗi cho người khác và giúp họ lớn lên dựa trên việc nhìn nhận sự xấu xa của các hành động của họ, nhưng không phê phán về trách nhiệm và sự có tội của họ”[9]. Họ dấn thân để ôm ấp lấy những sai lầm của người sống rời xa cộng đoàn và mời gọi họ sẵn sàng để mình được chữa lành.

Trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13–35) thường được xem như một mô hình kinh điển của đồng hành thiêng liêng. Sau khi chứng kiến cảnh khổ nạn của Chúa Giêsu, hai môn đệ thất vọng và đánh mất niềm tin vào Đấng Mêsia, lên đường rời bỏ cộng đoàn các môn đệ, mong muốn trở lại nếp sống cũ. Và Chúa Giêsu đã xuất hiện cùng đồng hành với họ. Cách Đức Giêsu tiếp cận họ mang tính sư phạm thiêng liêng sâu sắc: Người lắng nghe, giải thích Kinh thánh, và chỉ tự mặc khải trong cử chỉ bẻ bánh. Điều đáng chú ý ở đây chính là việc Chúa Giêsu không mở một lời mời hay ép buộc các môn đệ phải quay lại với cộng đoàn môn đê, Ngài tôn trọng sự chuyển biến nội tâm của họ, để sự nhận biết Chúa được nảy sinh từ nhận thức của họ. Đồng hành, theo nghĩa này, là một hình thức đồng hiện diện trong hy vọng, qua đó Thiên Chúa đi cùng con người ngay cả trong sự hoang mang và khủng hoảng[10].

Việc đồng hành thiêng liêng giúp người xa rời cộng đoàn trở về với đời sống đức tin không phải là một chiến lược mục vụ, nhưng đây là sứ vụ phát xuất từ niềm tin vào sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong đời sống con người. Người đồng hành không thay thế Thiên Chúa, không làm thay công việc của Chúa, nhưng là đồng hành với họ, giúp cho người được đồng hành nhận ra dấu chỉ của ân sủng trong chính kinh nghiệm của đời sống họ, khuyến khích họ đọc những gì lay động trong tâm hồn, nơi tinh tế mà Chúa nói chúng ta.[11]

3. Thái độ phải có của người đồng hành thiêng liêng

Một Giáo hội trung thành với căn tính của mình không thể chỉ được hiểu như một tập hợp những người “ở lại”, nhưng như một cộng đoàn luôn rộng mở cho những hành trình đức tin bị gãy đ, hoặc đang dở dang và nỗ lực phục hồi cuộc hành trình đức tin này trở về. Việc đồng hành với người rời xa cộng đoàn đòi hỏi người đồng hành một sự hoán cải mục vụ, có nghĩa là việc đồng hành thiêng liêng của người môn đệ thừa sai cần được thực thi trong tinh thần của một Giáo hội hiệp hành, “chúng ta cần phải mở lòng mình hướng đến một sự hoán cải thật sự trong các mối tương quan, điều sẽ định hướng lại các ưu tiên của mỗi người. Chúng ta phải học lại từ Tin mừng rằng việc chăm sóc các mối tương quan không chỉ là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mặc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho các mối tương quan dù còn mong manh của chúng ta được chiếu qua bởi ân sủng của Chúa Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, thì chúng ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi bằng chính đời sống của mình”[12]

Điều đó có nghĩa người đồng hành thiêng liêng luôn vâng theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ giúp chúng ta khám phá cách thế để giúp đỡ những người xa rời nhận ra tình thương của Thiên Chúa.Tin mừng trình bày những ví dụ khác nhau về những cuộc đối thoại với Chúa Giêsu, những cuộc đối thoại làm sáng tỏ và giải thoát. Ví dụ chúng ta hãy nghĩ đến những cuộc nói chuyện với người phụ nữ Samaria, luôn có sự khôn ngoan và dịu dàng này của Chúa Giêsu; chúng ta hãy nghĩ đến cuộc đối thoại với ông Giakêu, với người phụ nữ tội lỗi, với ông Nicôđêmô, với các môn đệ trên đường Emmaus: cách thế Thiên Chúa đến gần con người. Những ai thực sự gặp gỡ Chúa Giêsu thì không sợ mở lòng ra với Người, trình bày sự yếu đuối và bất toàn của mình. Bằng cách này, việc chia sẻ chính mình của họ trở thành một kinh nghiệm về ơn cứu độ, về sự tha thứ được đón nhận cách nhưng không”[13].

Vì vậy trong việc đồng hành thiêng liêng này đòi hỏi người môn đệ thừa sai phải: Lắng nghe trước khi nói, lắng nghe không nhằm sửa lỗi, nhưng để hiểu nỗi đau; phải khiêm tốn và kiên nhẫn, không đòi “kết quả mục vụ” nhanh chóng, và sẵn sàng chấp nhận những bước rất nhỏ; và phải trung tín trong cầu nguyện, người đồng hành thiêng liêng trước hết là đặt người được đồng hành trong lời cầu nguyện.

Kết

Đức Giáo hoàng Lêô XIV đưa ra nhận định: “Ngày nay, ranh giới của sứ mạng truyền giáo không còn là ranh giới địa lý nữa”. Nếu trước đây, sứ mạng truyền giáo thường gắn liền với việc lên đường đến những miền đất xa xôi, thì ngày nay, “sự nghèo đói, đau khổ và khát khao về một niềm hy vọng lớn lao hơn lại tìm đến với chúng ta.” Kể từ nay, theo ngài, sứ mạng truyền giáo đang bước vào một “kỷ nguyên mới”, một kỷ nguyên mà Giáo hội cần học cách “ở lại” ngay tại nơi mình hiện diện, và mở rộng sứ mạng “qua việc đón tiếp, cảm thông và liên đới”[14]. Đó cũng là điều mà nhắc nhở người môn đệ thừa sai thi hành sứ vụ dành cho những người rời xa Giáo hội, rời xa cộng đoàn qua việc nỗ lực trở thành người đồng hành thiêng liêng. Việc đồng hành luôn đòi hỏi một sự tiếp cận với họ trong tình nghĩa cha con, tình huynh đệ, vì “nếu không có kinh nghiệm về tình con cái và tình huynh đệ, việc đồng hành có thể làm nảy sinh những kỳ vọng không thực tế, những hiểu lầm, những hình thức lệ thuộc khiến con người rơi vào tình trạng ngây ngô, trẻ con. Đồng hành với nhau như con cái Thiên Chúa và như anh chị em của nhau”[15].

Cuộc tiếp cận này rất cần thiết trong việc trở thành người đồng hành thiêng liêng, nhờ hình thành mối tương giao tình nghĩa bằng hữu, người môn đệ thừa sai có thể hiểu rõ cội nguồn xa rời cộng đoàn của người mình đang muốn đồng hành. Hiểu để gợi mở một cuộc đối thoại bằng ngôn ngữ của trái tim, qua cuộc đối thoại này người môn đệ thừa sai qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần tìm ra những cách thế “để họ có thể được chữa lành các vết thương, được phục hồi để có thể tự đứng trên chân của mình và tìm được ý nghĩa trong cuộc đời họ”[16]. Đức Thánh cha Phanxicô đã đưa ra một kết luận cho việc đồng hành thiêng liêng như sau: Có một câu nói khôn ngoan rằng: “Nếu bạn muốn nhanh đến nơi, hãy đi một mình; nhưng nếu bạn muốn đến nơi an toàn, hãy đi cùng những người khác.” Điều này quan trọng. Trong đời sống thiêng liêng, tốt hơn hết là được đồng hành bởi một người biết những câu chuyện của chúng ta và giúp đỡ chúng ta. Và đây là sự đồng hành thiêng liêng”[17].

Lm. Antôn Hà Văn Minh

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

[1] Đức Thánh cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, công bố ngày 24/11/2013, số 169.

[2] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, ngày 08/12/1975, số 21.

[3] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 56.

[4] Nguồn https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2025-06/dtc-leo-xiv-moi-goi-giao-dan-tham-gia-truyen-giao-gia-dinh.html

[5] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 24.

[6] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 56.

[7] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 171.

[8] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 21.

[9] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 172.

[10] x. Luke Timothy Johnson, The Gospel of Luke, Sacra Pagina 3, Liturgical Press, 1991, tr 397-405.

[11] x. Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098

[12] Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới lần thứ XVI, số 50.

[13] x. Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098

[14] Nguồn: https://giaophanxuanloc.net/chi-tiet/quan-diem-cua-duc-giao-hoang-leo-xiv-ve-su-mang-truyen-giao-ngay-nay

[15] Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098

[16] Đức Lêô XIV, Diễn văn dành cho các Nhà truyền giáo Kỹ thuật số và người Công giáo có ảnh hưởng vào ngày 29/7/2025. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dien-van-cua-duc-thanh-cha-leo-xiv-cho-cac-nha-truyen-giao-ky-thuat-so-va-nguoi-cong-giao-co-anh-huong

[17] Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098