Ủy ban Giáo dân – Tháng 12.2025: Bài 2 – Canh tân cộng đoàn giáo xứ…

07/12/2025

Ủy ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam

Ban Nghiên Huấn

**********

THƯỜNG HUẤN GIÁO DÂN THÁNG 12/202

BÀI 2 – CANH TÂN CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ ĐỂ TRỞ THÀNH MỘT CỘNG ĐOÀN CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN

Trong Huấn thị “Cải tổ mục vụ cộng đoàn giáo xứ để phục vụ sứ vụ loan báo Tin mừng của Hội thánh” do Bộ Giáo sĩ ban hành ngày 29/6/2020, đã khẳng định: “Từ lúc khai sinh, giáo xứ được hình dung như đáp ứng cho một nhu cầu mục vụ rõ rệt, cụ thể là đem Tin mừng đến với dân chúng bằng việc thông truyền đức tin và cử hành các bí tích. Nguyên nghĩa của từ “giáo xứ” cho thấy rõ ý nghĩa của cơ chế này: giáo xứ là ‘một ngôi nhà ở giữa các ngôi nhà’ và là lời giải đáp cụ thể mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu Kitô, Đấng đang sống và hoạt động giữa cộng đoàn. Vì thế, nét đặc trưng cụ thể của giáo xứ là một nơi thờ phượng, một dấu chỉ của việc Chúa Phục sinh luôn hiện diện giữa Dân Người”[1]. Khi nói như vậy Bộ Giáo sĩ đã cố gắng thể hiện tinh thần của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong việc khám phá và tìm tòi trong tinh thần sáng tạo “cách thức tốt nhất để loan báo Tin mừng”[2] .

* Giáo xứ là một cộng đoàn truyền giáo

Giáo luật 1983 điều 515 §1 đã qui định: Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong Giáo hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho cha sở làm chủ chăn riêng, dưới quyền của giám mục giáo phận. Đức Thánh cha Phanxicô lưu ý rằng “giáo xứ là sự hiện diện của Hội thánh tại một lãnh thổ nhất định, là nơi để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và cử hành”, và ngài khẳng định rằng giáo xứ là “một cộng đoàn của các cộng đoàn”[3]. Việc hiện diện tại một lãnh thổ nhất định không có nghĩa là giáo xứ trở thành một lãnh địa, nhưng phải là một cấu trúc “có tính linh động cao, nó có thể tiếp thu những tình huống khá khác biệt tuỳ theo sự cởi mở và óc sáng tạo truyền giáo của người mục tử và của cộng đoàn”[4].

Có thể nói, nền tảng của việc hình thành cộng đoàn giáo xứ là chăm sóc đời sống đức tin của các tín hữu được qui tụ, Huấn thị của Thánh Bộ Giáo sĩ đã nói: “Giáo xứ có một lịch sử lâu dài, và ngay từ khởi đầu, đã đóng một vai trò nền tảng trong đời sống Kitô hữu, trong sự phát triển và hoạt động mục vụ của Hội thánh”[5]. Thật vậy, nhìn vào lịch sử hình thành giáo xứ, khởi đầu là một cộng đoàn thuộc một nhóm tín hữu được qui tụ chung quanh các Tông đồ và sau này là giám mục, càng ngày số tín hữu càng đông, nhất là sau sắc chỉ Milano năm 313 về tự do tôn giáo, nhiều cộng đoàn tín hữu được hình thành và giao cho một linh mục chăm sóc, nhiệm vụ chính của linh mục coi sóc là giảng Lời Chúa, dạy giáo lý, cử hành thánh lễ và các bí tích, thăm viếng bệnh nhân… chủ yếu là những công việc liên quan đến giảng dạy, thánh hóa, hướng dẫn và chăm sóc mục vụ. Có thể nói, nhiệm vụ truyền giáo của cộng đoàn giáo xứ chưa được đề cập đến cách rõ nét, cho dẫu tự bản chất cộng đoàn giáo xứ là cộng đoàn truyền giáo.

Mãi cho đến Công đồng Vatican II, mới đề cập đến nhiệm vụ truyền giáo của cộng đoàn giáo xứ. Giáo xứ không còn là một cộng đoàn sống co cụm khép kín, chỉ lo giữ đạo, thiếu mối tương quan với cộng đồng xã hội. Công đồng nhắn nhủ: tất cả các Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải dùng chứng tá và gương mẫu đời sống là làm chứng cho Tin mừng, và “để có thể làm chứng về Chúa Kitô cách hữu hiệu, chính các Kitô hữu phải liên kết với mọi người chung quanh với thái độ tôn trọng và yêu thương, phải biết mình là thành phần của cộng đồng mình chung sống, và tham gia đời sống văn hóa, xã hội qua những giao tiếp và hoạt động khác nhau trong cuộc sống nhân loại; phải hiểu rõ các truyền thống dân tộc và tôn giáo cũng như phải vui mừng và chú tâm khám phá ra những hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong đó” (AG số 11). Công đồng yêu cầu: “Các nhà truyền giáo, những cộng sự viên của Thiên Chúa, phải gầy dựng những cộng đoàn tín hữu biết sống xứng đáng với ơn gọi của mình, để có thể thi hành các chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế mà Thiên Chúa đã trao ban. Đó chính là cách thế để cộng đoàn Kitô hữu trở thành dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa nơi trần gian” (AG số 15). Và Công đồng khích lệ các tín hữu tại giáo xứ phải là những con người truyền giáo qua việc tham gia các công việc truyền giáo qua các hoạt động tông đồ giáo dân (x. AG số 41).

Trong sắc lệnh về Tông Đồ Giáo dân (AA), một lần nữa Công đồng nhấn mạnh đến vai trò của giáo xứ trong công việc tông đồ giáo dân: “Giáo xứ là một hình thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi qui tụ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đem họ vào tinh thần đại đồng của Giáo hội” (AA số 10). Với ý hướng này, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II đã làm sáng tỏ lý do hiện hữu của giáo xứ: “Tất cả chúng ta phải lấy lòng tin khám phá lại dung mạo đích thực của giáo xứ, tức là chính ‘mầu nhiệm’ Giáo hội đang hiện diện và hoạt động trong giáo xứ.[…] giáo xứ tiên vàn không phải là một cơ cấu, một lãnh địa, một tòa nhà; nhưng trước hết, ‘giáo xứ là gia đình của Thiên Chúa, là cộng đoàn huynh đệ chỉ có một tâm hồn’. […] giáo xứ được xây dựng trên một thực tại thần học, vì đó là một cộng đồng Thánh Thể. Thánh Thể là nguồn gốc sống động cho sự thiết lập và phát triển của giáo xứ, và là mối dây bí tích để giáo xứ hiệp thông hoàn toàn với toàn thể Giáo hội.”[6]. Vì hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội nên giáo xứ cũng mang trong mình bản chất truyền giáo của Giáo hội, nên giáo xứ phải là môi trường để mọi giáo dân ra sức nỗ lực làm cho sự hiệp thông đích thực trong Giáo hội được tăng trưởng ngay trong lòng giáo xứ của mình và khơi dậy hứng khởi truyền giáo cho những người không tin và cho cả những tín hữu đã từ bỏ hay hời hợt với đời sống Kitô hữu.”[7]

Bởi mang trong mình chính sứ vụ của Giáo hội, “giáo xứ phải sống và sinh hoạt gắn bó mật thiết với xã hội con người và liên đới sâu xa với những khát vọng cũng như thảm trạng của họ. [….] Giáo xứ có thể đáp ứng được ước vọng đó nếu, nhờ sự tham gia tích cực của giáo dân, giáo xứ trung thành với ơn gọi và sứ vụ nguyên thủy của mình: giữa thế gian, là ‘nơi’ hiệp thông các tín hữu, đồng thời là ‘dấu chỉ’ và ‘khí cụ’ của lời mời gọi mọi người sống hiệp thông; nói tóm lại, giáo xứ phải là ngôi nhà rộng mở để đón nhận mọi người và phục vụ mọi người, hay như kiểu nói ưng ý của Đức Gioan XXIII, giáo xứ là giếng nước đầu xóm, nơi mọi người đến giải khát”[8].

Để được như thế, Thánh Bộ Giáo sĩ đã kiến nghị về việc canh tân giáo xứ để giáo xứ thực sự trở thành một cộng đoàn truyền giáo. Canh tân không có nghĩa là hủy bỏ cấu trúc địa giới truyền thống của giáo xứ, bởi “giáo xứ vẫn là một tổ chức thiết yếu quan trọng hàng đầu trong cơ cấu hữu hình của Hội thánh”[9]. “Giáo xứ là ngọn hải đăng tỏa chiếu ánh sáng đức tin và như thế đáp ứng những khát vọng sâu xa và chân thực nhất của tâm hồn con người, đem lại ý nghĩa và hy vọng cho đời sống cá nhân và gia đình”[10]. Tuy nhiên phải nhìn đến hiện tình của cuộc sống xã hội đương đại, trong đó “tính di động gia tăng và nền văn hóa kỹ thuật số mở rộng các ranh giới của đời sống. Một mặt, ngày nay người ta ít gắn bó hơn trong một khung cảnh địa lý rõ ràng và cố định, mà lại sống trong ‘một ngôi làng toàn cầu và đa nguyên’; đàng khác, không thể tránh khỏi nền văn hóa kỹ thuật số làm thay đổi khái niệm về không gian, cùng với ngôn ngữ và hành vi của con người, nhất là nơi thế hệ trẻ”[11]. Vì thế, giáo xứ không còn là nơi tụ họp mang tính cục bộ địa phương, chỉ lo chăm chút những truyền thống và đặt nặng yếu tố “người trong nhà”. Thánh Bộ Giáo sĩ đã cảnh báo: “Những hoạt động theo thói quen đều đặn không có tác động gì đến đời sống con người cụ thể sẽ chỉ là một cố gắng sống còn cằn cỗi, thường chỉ được mọi người thờ ơ đón nhận. Nếu giáo xứ không sống tinh thần năng động loan báo Tin mừng, thì có nguy cơ giáo xứ tự quy chiếu vào chính mình và xơ cứng, cho những kinh nghiệm thiếu hương vị Tin mừng và thiếu lòng nhiệt thành truyền giáo, chỉ biết đến những nhóm nhỏ mà thôi”[12].

* Giáo xứ cộng đoàn của các cộng đoàn

Ngày nay Giáo hội yêu cầu “giáo xứ cần phải tìm ra những hình thức mới để đồng hành và gần gũi qua các sinh hoạt thường ngày”[13]. Điều này có nghĩa giáo xứ không chỉ là một cộng đoàn được qui định bởi một ranh giới địa lý, nhưng còn phải là một cộng đoàn được qui tụ trong một “lãnh thổ hiện sinh”. Thánh Bộ Giáo sĩ nhấn mạnh: “Lãnh thổ giáo xứ không chỉ là một không gian địa lý, mà còn là bối cảnh nơi đời sống con người được thể hiện qua các mối quan hệ, qua việc phục vụ lẫn nhau và qua truyền thống lâu đời. Chính trong “lãnh thổ hiện sinh” này, mà Hội thánh đang phải đối diện với những thách đố đang diễn ra ngay trong lòng cộng đoàn”[14].

Trong chiều hướng này, Thánh Bộ Giáo sĩ muốn các giáo xứ canh tân để giáo xứ thực sự là một cộng đoàn kiến tạo nên các cộng đoàn, mang dáng dấp về một Cộng đoàn cơ bản (Basic Ecclesial Communitie), có nghĩa là một cộng đoàn được hình thành một nhóm nhỏ các Kitô hữu sống gần nhau (cùng xứ, cùng khu phố, cùng xóm), quy tụ lại để cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, chia sẻ đức tin và giúp đỡ nhau sống đạo trong đời thường. Cộng đoàn cơ bản là hình thức tiếp nối cộng đoàn đã được hình thành từ rất sớm, ngay từ buổi bình minh của Giáo hội. Sách Công vụ Tông đồ tường thuật: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, hiệp thông, bẻ bánh và cầu nguyện” (Cv 2,42), và “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ và bẻ bánh tại tư gia” (Cv 2,46).

Canh tân giáo xứ để giáo xứ mở rộng cánh tay, đi ra khỏi chính mình, khích lệ và đón nhận các cộng đoàn được qui tụ với một mục đích duy nhất: xây dựng Nước Chúa. Vì thế, việc canh tân giáo xứ để trở thành cộng đoàn loan báo Tin mừng đòi hỏi giáo xứ phải kiến tạo “một cách tiếp cận mới với những sáng kiến mục vụ đa dạng, làm sao cho Lời Chúa và đời sống bí tích có thể chạm tới từng người tùy theo bậc sống của họ. Ngày càng thấy rõ hơn rằng tư cách thành viên của Hội thánh ngày nay không hệ tại ở nơi ta sinh ra và lớn lên, cho bằng là việc ta tham dự vào một cộng đoàn do được thừa nhận”[15]

Các cộng đoàn Kitô hữu mang tính cộng đoàn cơ bản có thể là các đoàn thể tông đồ như: cộng đồng di dân, Legio Mariae, Phong trào Cursillo, Nhóm canh tân Gia đình, Khôi Bình, Hội Mân Côi. Hội doanh nhân Công giáo, Hội giới chức Công giáo, v.v…. những đoàn thể này được qui tụ không nhất thiết phải là những người có chung một địa giới giáo xứ, nhưng có chung một ý hướng: làm chứng cho Tin mừng trong một môi trường cụ thể của cuộc sống. Một nhóm Kitô hữu được qui tụ theo hoàn cảnh sống, nghề nghiệp được xây dựng trên tình bằng hữu, kết nối tình huynh đệ, và đây là khởi điểm cho công việc làm chứng tá cho Tin mừng, vì “qua các mối tương quan liên vị sinh ra niềm tin tưởng và hy vọng. Thời đại ngày nay vốn được ghi dấu bởi sự thờ ơ, cá nhân chủ nghĩa và không chấp nhận người khác, nên việc tái khám phá tình huynh đệ là rất quan trọng và cần thiết vì sứ vụ loan báo Tin mừng, gắn bó mật thiết với các mối quan hệ nhân linh”[16].

Các cộng đoàn Kitô hữu được qui tụ không gì hơn là sử dụng cái đặc thù riêng của cộng đoàn tạo nên một nền “văn hóa gặp gỡ” giữa cá nhân với cá nhân, giữa cộng đoàn với cộng đoàn. Trong mối tương quan gặp gỡ này, các cộng đoàn “lấy con người làm trung tâm nên thúc đẩy việc đối thoại, liên đới và cởi mở đón nhận người khác. Bởi thế, giáo xứ cần phải là ‘nơi chốn’ đặc biệt cho sự gắn kết mọi người với nhau và nuôi dưỡng các mối tương quan cá nhân lâu bền, từ đó giúp người ta cảm nhận mình thuộc về và được yêu thương”[17]. Giáo xứ là môi trường kiến tạo sự đa dạng giữa các cộng đoàn làm nên sự hiệp nhất để từ đó, không một ai trong cộng đoàn giáo xứ bị loại trừ hay là đứng bên lề, nhưng tất cả mọi người đã được rửa tội, “nhờ ơn Chúa Thánh Thần và các đặc sủng đã lãnh nhận, thể hiện như một tác nhân tích cực của việc Phúc-âm-hóa, theo phong cách và phương thức của một cộng đoàn có tổ chức, cùng với những cộng đoàn giáo xứ khác cũng như với việc mục vụ của toàn giáo phận”[18]. Đức Thánh cha Phanxicô đã lưu ý rằng “giáo xứ là sự hiện diện của Hội thánh tại một lãnh thổ nhất định, là nơi để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và cử hành”, và ngài khẳng định rằng giáo xứ là “một cộng đoàn của các cộng đoàn”[19].

Kết

Đức Thánh cha Phanxicô trong Tông huấn Niềm vui Tin mừng đã nhấn mạnh: “Giáo hội phải đi sâu vào để nhận thức chính mình, suy gẫm về mầu nhiệm của mình […]. Trong Giáo hội, có những cơ chế cản trở nỗ lực loan báo Tin mừng, cũng thế, những cơ chế tốt chỉ có ích khi có một sức sống liên lỉ khởi động, nâng đỡ và lượng định chúng. Nếu không có một sức sống mới và một tinh thần Phúc âm thực sự, nếu Giáo hội không “trung thành với ơn gọi của chính mình”, thì mọi cơ chế mới nào chẳng bao lâu cũng sẽ bị biến chất”[20], vì thế giáo xứ phi nỗ lực canh thành để trở thành ngôi nhà chung của mọi người, phải kiến to giáo xứ không bị đóng khung trong một lãnh thổ nhất định, nhưng là một cộng đoàn rộng mở, một cộng đoàn kết nối bằng tình huynh đ và tình bằng hữu xã hội. Tài liệu làm việc châu lục chuẩn bị Thượng Hội đng Giám mục Thế giới lần thứ XVI đã lấy chủ đề: “Hãy nới rộng lều ngươi đang ở (Is 54, 2), việc nới rộng lều đòi hỏi phải đón nhận những người khác, dành chỗ cho sự đa dạng của họ. Vì thế, vì yêu thương chính mình phải sẵn sàng chết đi, để tìm lại được mình trong và qua mối tương quan với Chúa Kitô và người thân cận”[21], đây cũng là gợi ý cho mỗi giáo xứ cần phải mở rộng để giáo xứ trở thành cộng đoàn của các cộng đoàn.

Trong tinh thần canh tân giáo xứ để trở thành cộng đoàn hiệp thông loan báo Tin mừng, giáo xứ đón nhận và thiết lập các cộng đoàn Kitô hữu, nỗ lực “tìm ra những cơ cấu giúp mọi thành phần trong cộng đoàn Kitô hữu thực hiện ơn gọi chung loan báo Tin mừng, nhắm đến việc chăm sóc mục vụ hữu hiệu hơn cho Dân Chúa, mà “chìa khóa” cho việc đó là sự gần gũi”[22]. Tuy nhiên, khi qui tụ các cộng đoàn Kitô hữu, chúng ta cần phải đặc biệt xét đến “tính thuần nhất của dân chúng trong vùng và các tập quán của họ, cũng như những nét đặc trưng chung trong khu vực, hầu tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ gần gũi giữa các cha xứ và các tác viên mục vụ khác”[23].

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – 

[1] Thánh bộ Giáo sĩ, Huấn thị “Hoán cải mục vụ cộng đoàn giáo xứ để phục vụ sứ mạng truyền giáo của Giáo hội, công bố bố ngày 20/7/2000 tại Roma, số 7.

[2] Nt. Số 1.

[3] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 28.

[4] Nt.

[5] Thánh bộ Giáo sĩ, Huấn thị “Hoán cải mục vụ cộng đoàn giáo xứ để phục vụ sứ mạng truyền giáo của Giáo hội, công bố bố ngày 20/7/2000 tại Roma, số 6.

[6] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Tông huấn “Người tín hữu Giáo dân” số 26.

[7] Nt, số 27.

[8] Nt.

[9] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II, Diễn văn trước Tham dự viên Khoáng đại Hội nghị Bộ Giáo sĩ (20/10/1984), số 3 và 4.

[10] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Bài giảng khi thăm viếng mục vụ giáo xứ Our Lady Star of Evangelisation, Rome (10.12.2006): Insegnamenti II/2 (2006), 795.

[11] Thánh Bộ Giáo sĩ, Huấn thị “Cải tổ Mục vụ Cộng đoàn Giáo xứ để phục vụ sứ vụ loan báo Tin mừng của Hội thánh”, ban hành ngày 29/6/2020, số 8.

[12] Nt, số 17.

[13] Nt, số 14.

[14] Nt, số 16.

[15] Nt, số 18.

[16] Nt, số 24

[17] Nt, số 25.

[18] Nt, số 38.

[19] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông Huấn “Niềm vui Tin Mừng”, số 28.

[20] Nt, số 26.

[21] Tài liệu làm việc cho Châu Lục, số 28 nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-lieu-lam-viec-cho-giai-doan-chau-luc-cua-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-tinh-hiep-hanh-2021-2024-48805

[22] Thánh bộ Giáo sí, Huấn thị “Cải Tổ Mục Vụ Cộng Đoàn Giáo Xứ Để Phục Vụ Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng Của Hội Thánh”, ban hành ngày 29-06-2020, so 44.

[23] Nt, số 45

Lm. Antôn Hà Văn Minh

Nguồn: hdgmvietnam.com