Vị Giám Mục thứ 6 cai quản Giáo Phận Huế (từ 1931-1936)

Alexandre Paul Marie Chabanon, gốc Giáo phận Mende, sinh tại Antrenas, gần Marvejols, ngày 7 tháng 7 năm 1873, nhưng lớn lên ở Cambon, xã Saint-Léger de Peyre, nơi song thân là những nông dân cần cù sở hửu một mảnh đất nhỏ.
Cậu là con thứ trong 3 người con: một gái đầu và hai trai. Người con trai út nhập Dòng Anh Em Trường Kitô (Lasan) và mang tên Thầy Baptiste. Thầy qua đời ở Huế, tại trường Pellerin, cách 25 năm về trước. Người chị nay cũng đã từ trần đã sống tại quê nhà và là mẹ của Thầy Vital, người đã theo gót cậu mình vào Dòng Anh Em Trường Kitô. Thầy làm hiệu trưởng trường Sóc Trang, ở Nam Kỳ. Thầy đi nghỉ tại Pháp khi Đức Cha Chabanon đến đó và qua đời.
Thân mẫu cậu có tiếng là một người rất thông minh và nhất là rất đạo đức. Chính nhờ bà, dĩ nhiên sau Thiên Chúa, chúng tôi không nghi ngờ gì về điều đó, mà vị thừa sai mang ơn về những đặc tính vững chắc của khối óc và con tim như chúng tôi biết được.

Cậu vào Tiểu chủng viện lớp septième năm 1884. Một bạn cùng lớp vạch ra cho chúng tôi gương mặt đầy xây dựng của cậu như sau:
“Ở Tiểu chủng viện, Alexandre Chabanon là một mẫu học sinh khôn ngoan, chăm học, điềm tỉnh, ít nói, được mọi người yêu mến. Tháng nào cậu cũng lấy được điểm” ưu” và được cho về thăm nhà… Tôi thấy cậu chỉ bị phạt một lần thôi. Đó là ở lớp Première (rhétorique), cậu hoặc người bên cạnh đã quên mang đến lớp một tác giả mà người ta phải chú giải, và cả hai nghe vị giáo sư giải thích trên cùng một cuốn sách, khi bất ngờ họ bị bắt gặp cười ngặt nghẽo (fou rire); điều đã làm cho cậu bị phạt dịch 30 trang sách Tite-Live và bạn cậu dịch 30 trang Tacite”.
Cậu có một trí thông minh tốt, vững chắc hơn là toả sáng, một trí phán đoán lành mạnh, và nhất là một sự bền bĩ chuyên cần, làm cho cậu hằng năm lãnh được hầu như mọi phần thưởng. Về sau dễ nhận thấy, qua thư từ của vị thừa sai và vị Giám mục cũng như trong các báo cáo phải viết, cậu đã học hành rất giỏi; cậu diễn đạt một cách dễ dàng và chính xác trong các bài viết, với những ký ức văn chương hay, dưới một hình thức không sai lỗi.
Cậu thi tú tài bán phần năm 1891. Vào tháng 10 cũng năm đó, cậu vào Đại chủng viện Mende trong hai năm. Đây là một chủng sinh gương mẫu về mọi mặt, cần cù, một lòng đạo sâu xa chắc chắn, không ôm đồm các việc sùng kính, nghiêm khắc với chính mình, luôn chu toàn mọi bổn phận , đơn sơ không phô diễn, và bên ngoài xem ra không phải gắng sức.
Các đặc tính phi thuờng này làm cho thầy thường được các chủng sinh đánh giá cao. Theo bình thường, thầy Chabanon có lẽ cũng như các bạn đồng môn khác sẽ chịu phép cắt tóc vào dịp phong chức nhân lễ Chúa Ba Ngôi năm 1893, sau khi hoàn thành hai năm triết. Do đặc ân mà chắc chắn không phải thầy tìm cách chiếm đoạt cho được và tôi nghĩ rằng thầy cũng chẳng khoe khoang gì về chuyện này, thầy đã lãnh phép cắt tóc vào dịp Bốn Mùa trước Noël 1892.
Thế nên thầy tư tế trẻ tiến vào cung thánh trong bình an và không rộn ràng, trung thành chu toàn những bổn phận của một chủng sinh tốt lành, đó là hoàn toàn hợp lòng hợp ý với ân sủng của ơn gọi
linh mục.
Nhưng Thiên Chúa đã xác định tiếng gọi của Ngài: Chúa nuốn định cho thầy không phải để thánh hoá các linh hồn trong giáo phận Mende, nhưng Ngài muốn sai thầy đi cứu các linh hồn lương dân ở xa phía bên kia đại dương. Khi nào thầy nghe được tiếng gọi đặc biệt đó? Có bao nhiêu thời gian để thầy chín muồi trong cầu nguyện và suy tư? Người thỉnh sinh truyền giáo này được đưa dẫn cách nào để hướng bước chân về Chủng Viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại hơn là về một Hội Dòng truyền giáo nào khác?

Gia đình thầy nghĩ thế nào? Các cuộc chiến đầu nào có thể có? Dầu sao, những hy sinh nào đánh dấu sự giã từ cha mẹ thân thương? Về những điều đó, thầy im lặng chẳng bao giờ thổ lộ gì cho ai. Chỉ có Chúa làm chứng và là người tâm sự, đó là một trong những luật sống đời ngài.
Dự định của mình, thầy chỉ bộc lộ ra ít tháng trước khi thực hiện cho người bạn cuối cùng của ngài là thầy Tardieu, nay là Giám Mục Đại Diện Tông Toà Qui Nhơn, người mà thầy xét thấy có cùng những khát vọng như nhau. Họ cùng ra đi vào một ngày tháng 9 năm 1893 đến Rue du Bac. Cùng học một lớp ở Tiểu chủng viện, cùng học các lớp ở Đại chủng viện Mende và rồi tại Hội Truyền Giáo Hải Ngoại.
Họ lại gặp nhau tại Việt Nam trong hai Miền Truyền Giáo kề cận nhau; và trong cùng một năm, các ngài được nâng lên vinh dự của hàng giám mục. Sự thân tình trìu mến của họ đã được thắt chặt trên ghế nhà trường không bao giờ phai mờ trong suốt 40 năm cuộc sống tông đồ của các ngài.
Người thỉnh sinh truyền giáo ở Paris vẫn là người chủng sinh ở Mende: một mẫu gương đều đặn, đơn sơ, sống nội tâm và cũng là một người làm việc hăng say. Các đồng bạn và chắc hẳn cả các vị điều hành đều nhìn thấy thầy như là một trong số những người đứng ở tốp đầu các môn học của mình, còn thầy luôn khiêm tốn, không bao giờ coi mình đáng giá gì.
Chính như thế, trung thành chu toàn bổn phận hằng ngày, nhưng mất hút trong đoàn thỉnh sinh đông đúc vào thời đó, thầy đến với chức linh mục ngày 28 tháng 6 năm 1896.
(Còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ