
THÁNH EMMANUEL NGUYỄN VĂN TRIỆU
Linh mục, Tử đạo (1756 – 1798)
Emmanuel Nguyễn Văn Triệu sinh năm 1756 tại làng Kim Long, huyện Phú Xuân (nay thuộc thành phố Huế). Thân phụ cậu là ông Cai Lương (Nguyễn Văn Lương), một võ quan Công giáo phò Chúa Nguyễn đã tử trận trong một cuộc chiến với Tây Sơn, Sớm mồ côi cha, cậu Triệu sống với mẹ ở Thợ Đúc, rồi đi vào nghề binh năm 1771 khi mới 15 tuổi.
Giã từ chúa Trịnh, đi theo Chúa Trời.
Năm 1774, anh cùng các bạn gia nhập quân đội vua Lê chúa Trịnh, chiếm được Phú Xuân. Đến khi Tây Sơn từ phía Nam đánh ra, trở thành chủ nhân ông mới của Phú Xuân, vệ binh Nguyễn Văn Triệu đành theo Trịnh Khải rút về Thăng Long (1786).
Tháng 6 năm đó, quân Tây Sơn thừa thắng xông lên, tiến ra Bắc lấy cớ phò Lê diệt Trịnh. Trịnh Khải phải mổ bụng tự tử. Rồi vua Lê Cảnh Hưng băng hà, Lê Chiêu Thống lên ngôi, miền Bắc lại xẩy ra nội chiến giữa hai phe Trịnh Lệ và Trịnh Bồng. Chính bối cảnh nhiễu nhương thay ngôi đổi chúa đó đã làm cho anh vệ binh Triệu phải suy nghĩ và đi đến quyết định dứt khoát cho đời mình.
Ba mươi tuổi đời, 15 năm binh nghiệp với biết bao thăng trầm, Emmanuel Triệu bước vào một khúc quanh mới, giã từ vũ khí để phụng sự Vua trên trời và qua đó phục vụ tha nhân cách đích thực. Mới đầu anh được một linh mục dòng Tên ở Hà Nội hướng dẫn, nhưng sau anh được Đức Cha Emmanuel Obelar Khâm (1734-1779-1789), Đại diện Tông tòa Giáo phận Đông Đàng Ngoài nhận vào học tại trường thần học Trung Linh. Và năm 1793, Đức cha Feliciano Alonso Phê (1733-1790-1799, vị kế nhiệm) truyền chức linh mục. Khi đó cha Triệu đã 37 tuổi.
Nhờ nền giáo dục chu đáo từ nhỏ, cùng với những kinh nghiệm lâu năm trong đời sống quân ngũ, và nhất là nhờ ơn Chúa giúp, cha Emmanuel Triệu trở thành mục tử hăng say nhiệt tình và làm việc có phương pháp. Sáu năm phục vụ tại Giáo phận Đông Đàng Ngoài, cha đã thu hoạch được nhiều kết quả và được các bề trên quí mến.
Tự xưng Linh mục, chấp nhận lao tù.
Dưới thời vua Cảnh Thịnh (1792-1802), tình hình trong nước ngày càng phức tạp. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) tổ chức quân đội ngày càng mạnh, hùng cứ ở Gia Định, hàng năm cứ đến mùa gió nồm lại đem quân ra đánh Huế. Hỗ trợ cho cho Nguyễn Ánh có một số quân Pháp do Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc, Giám mục chính Giáo phận Đàng Trong) chiêu mộ. Do đó, vua Cảnh Thịnh sinh ra ác cảm với đạo, nhất là cuối năm 1797, khi bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi Đức cha Jean Labartette An (Giám mục phó Đàng Trong, đang ở Phú Xuân), nhà vua càng nghi ngờ đạo Công giáo tiếp tay cho giặc. Một quan văn có đạo, Hồ Cung Diệu (theo A. Launay) nhiều lần thanh minh trước mặt nhà vua rằng: “Đạo dạy trung quân vương, hiếu phụ mẫu, chớ có phải đạo dạy làm giặc đâu”. Vua nghe nói thì chần chừ. Nhưng viên quan võ nội hầu tên Lợi cứ gièm pha mãi, nên cuối cùng, tháng 08-1798, một chiếu chỉ cấm đạo được ban hành.
Trước đấy ba tháng, cha Emmanuel Triệu vì thương nhớ mẹ già, nên đã đi vào Phú Xuân, gặp vị bản quyền là Đức cha Jean Labartette để xin phép, sau đó đến Thợ Đúc. Sau 12 năm xa cách, thật bùi ngùi cảm động cảnh mẹ con lại gặp nhau. Giờ đây mái tóc mẹ đã bạc, còn con nay đã 42 tuổi và là linh mục của Chúa. Xót xa trước cảnh mẫu thân phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác, cha Triệu quyết định ở lại, cùng với bà con lối xóm, dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương thân. Thời gian này, cha nhân thể cũng đi thăm viếng và dâng lễ tại các họ đạo gần đó. Cha được các tín hữu ở đây thương mến nhiều.
Ngày 07.08.1798, theo chiếu chỉ nhà vua mới ban hành, bốn cơ binh (mỗi cơ 50 lính) bất thần bao vây bốn giáo xứ lớn ở Kinh đô (Dương Sơn, Kim Long, Phủ Cam và Thợ Đúc). Tại Thợ Đúc, quan quân có ý tìm vị mục tử phụ trách là Cha G.B. Nhơn (Nhơn Lão +1819), nhưng nhờ quan Hồ Công Diệu báo tin, nên ngài đã trốn thoát kịp. Còn cha Triệu thì mới về, quan không biết. Quan quân bắt một số giáo hữu trong đó có cha tại phước viện Mến Thánh Giá Thợ Đúc và tra hỏi về các linh mục. Cha Triệu tự nguyện cung khai, nhận mình là loại người họ muốn lùng bắt. Quân lính liền trói tay cha dẫn đi. Khi thấy mẹ già khóc lóc thảm thiết, cha dừng lại nói lời từ giã: “Thiên Chúa đã cho con vinh dự làm chứng cho Người. Xin mẹ đừng khóc nữa, một hãy vui lòng vâng theo ý Chúa.”
Vượt qua gian khổ.
Tiếp theo đó là 40 ngày đêm thử thách trong cảnh ngục tù. Cổ mang gông lớn, tay chân bị xiềng xích, lương thực bị ăn chặn, cha còn bị đưa ra tòa nhiều lần, lãnh ba trận đòn dữ dội. Khi các quan thẩm tra lý lịch, cha nói rõ mình sinh quán ở Phú Xuân, vì hoàn cảnh khó khăn mới phải ra Đàng Ngoài để làm ăn, rồi được học giáo lý trong đạo và làm linh mục. Quan hỏi: “Thầy có vợ con ở đây hay ở Đàng Ngoài?” Cha đáp: “Tôi không lấy vợ, vì là linh mục. Tôi sống độc thân.”
Ngày 17.08 các quan định kết án voi giầy nhưng một viên quan không đồng ý nên vụ án được trì hoãn.
Thời gian ở trong ngục, cha Triệu vẫn giữ được niềm vui vẻ và tin tưởng vào Chúa. Điều an ủi cha nhất là được một linh mục cải trang vào thăm và giải tội. Thân mẫu cha nhiều lần cũng đến viếng. Cha an ủi bà và xin bà cầu nguyện cho mình được trung kiên. Ngoài ra, cha tranh thủ mọi giờ rảnh rỗi để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.
Đi vào vinh quang.
Ngày xử được ấn định là 17.09.1798. Sáng hôm đó, quan hỏi cha lần cuối: “Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng về quê quán sinh sống không? Nếu thầy đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho.” Cha Triệu khẳng khái trả lời: “Thưa không, tôi là đạo trưởng, tôi thà chết chớ chẳng bỏ việc giảng đạo.” Thế là đến 10 giờ sáng cha Triệu bị điệu ra pháp trường cùng với sáu tên trộm cướp cũng lãnh án tử hình hôm đó. Cha bước đi bình tĩnh, trang nghiêm như một chiến sĩ thận trọng trước giờ lâm chiến. Các tín hữu nghe tin lũ lượt đi phía sau. Đằng trước cha, một người lính cầm thẻ bài đọc ghi bản án: “Tên Triệu, con nhà Nguyễn Văn Lương, chuyên giảng đạo Hoa Lang, quyến rũ dân chúng theo đạo đáng ghê tởm ấy. Vậy y phải trảm quyết.”
Tai Chợ Được[*], nơi thi hành bản án, cha Triệu quỳ xuống cầu nguyện. Theo thói lệ, mỗi tử tội được phát một quan tiền để ăn uống trước khi chết. Cha từ chối, quan liền nói: “Của vua ban không được coi thường.” Cha trả lời: “Vậy xin ai đó cầm tiền giúp tôi, gửi cho người nghèo.” Một tên lính thấy thế liền tát vào mặt ngài một cái. Viên quan nổi giận và mắng anh ta: “Chưa đến giờ xử mà mi dám ngạo ngược như thế sao?” Rồi ông quay qua mời vị chứng nhân đức tin ngồi và nói: “Khi nào đến giờ, tôi sẽ cho thầy biết.” Cha Triệu liền ngồi và tiếp tục cầu nguyện.
Đúng 12 giờ trưa, viên quan bảo vị linh mục: “Đến lúc rồi!” Cha Triệu quỳ lên giơ cổ cho lý hình chém. Thi hài vị tử đạo được các tín hữu chôn gần đó. Năm 1803 được cải táng rồi rước về nhà thờ Dương Sơn theo lệnh Đức cha Labartette (như một ân thưởng cho giáo xứ này). Ngày 21.07.1996, Đức Tổng Giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể cho đưa hài cốt Thánh nhân đến giáo xứ Thợ Đúc (quê ngoại, nơi ngài bị bắt), còn phần sọ của ngài vẫn được Dương Sơn cất giữ.
Đức Giáo hoàng Lêo XIII suy tôn Chân phước cho cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu ngày 27.05.1900. Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II tôn phong lên bậc Hiển thánh ngày 19.06.1988.
Ban Biên tập Lịch sử TGP Huế
—————————————
* Khu vực Gia Hội, đầu đường Chi Lăng, thành phố Huế hiện thời. Cha Gagelin Kính mới chịu tử đạo ở Bãi Dâu, Chợ Dinh, cuối đường Chi Lăng.