Ngày 24.10: Thánh Tử đạo Giuse Lê Đăng Thị (Cai đội)

24/10/2025

THÁNH GIUSE LÊ ĐĂNG THỊ

Cai đội, Tử đạo

(1825-1860)

Giuse Lê Đăng Thị sinh năm 1825 (hoặc 1828) tại giáo xứ Kẻ Văn, làng Văn Quỹ, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình binh nghiệp. Thân phụ anh giữ chức cai đội. Lớn lên, anh được cho vào trường đặc biệt dành cho con quan lại, ở đó 2-3 năm, rồi cũng theo nghề của cha, nhập ngũ và phục vụ trong quân đội triều đình. Một thời gian sau, anh được thăng Chưởng vệ trông coi 50 lính. Đổi ra Hà Tĩnh, anh lấy vợ tại đấy rồi được điều ra Nghệ An. Sau cái chết của người vợ đầu đã sinh cho anh ba đứa con, anh cưới người vợ thứ nhì.

Gia trưởng đậm tình giữa bão tố

Vua Tự Đức sau một thời gian bách hại đạo gắt gao, đã phát hiện ra mệnh lệnh của mình chưa được thi hành đồng loạt, vì ngay trong hàng ngũ quan lại và binh sĩ, cũng có người theo Công giáo. Ngày 15.12.1859, nhà vua ra thêm một sắc chỉ bắt tất cả hai hạng tín hữu đó: “Những quan chức nào theo tả đạo, dù thành thực bỏ cũng phải truất chức. Cần điều tra cẩn thận để tìm thêm những viên chức triều đình mê đạo tà này. Những ai không tố giác, hoặc chứa chấp trong nhà mình, cũng bị trừng phạt như chúng vậy…” Nhà vua còn buộc mọi quan quân phải bước qua Thập giá trước khi ra trận đánh giặc Tây: “Ai không bỏ đạo sẽ bị giải ngũ, bị khắc chữ Tả đạo vào má và phải lưu đày.”

Theo lời khuyên của trấn thủ Nghệ An, người từng giục ông xuất giáo bất thành nhưng vẫn mến thương ông, cai đội Lê Đăng Thị làm đơn xin xuất ngũ lấy cớ bệnh tật. Đơn xin được chấp thuận, ông trở về quê cũ Văn Quỹ, để vợ con ở lại Nghệ An, hứa sẽ hồi gia khi bão lặng. Tháng Giêng năm 1860, sắc chỉ vua Tự Đức trên đây được áp dụng triệt để toàn quốc, ông cai Thị vì có kẻ bên lương tố giác, nên bị bắt ngày 28.01 cùng một số bạn đồng ngũ và bị giải về thành Quảng Trị. Ông vui vẻ nhận mình là cai đội và là Kitô hữu.

Sau nhiều lần từ chối bỏ đạo, ông phải mang gông nặng, rồi bị xiềng ban đêm. Lối đối xử khắc nghiệt này chẳng làm suy giảm lòng can đảm, mà còn gia tăng lòng đạo đức của vị chứng nhân. Trong một lá thư gửi về cho vợ, ông viết: “Anh đã sửa soạn nhà cửa và nghĩ sẽ đưa em cùng con cái vào, nhưng mọi chuyện nay thay đổi. Anh đã bị bắt theo lệnh quan. Chắc chúng ta không còn gặp nhau trên trần gian này nữa. Anh gởi cho em hai lượng vàng để chứng tỏ anh vẫn không quên em lẫn các con, và tiếp tục yêu thương cả nhà.”

Viễn ảnh ấy không làm cho tâm hồn của vị sĩ quan gan dạ buồn bã, Theo lời một chứng nhân, ông luôn vui tươi, bình thản, cả ngày ngồi đan những chiếc dép bằng rơm tặng bạn tù. Sáng và chiều, người ta nghe ông và các quân nhân cùng bị bắt đọc kinh, lần chuỗi. Cai tù đến buộc im lặng cũng mặc. Dần dần, nhờ chế độ giam giữ bớt khắc nghiệt, ông được phép đi thăm đồng đạo ở Cổ Vưu (Trí Bưu hiện giờ), dự lễ xưng tội trong nhà lương y kiêm trùm hạt Quảng Trị Phanxicô Xaviê Lê Thiện Thìn (1805-1878).

Gần cuối tháng 08.1860, ông phải ra tòa cùng với 31 quân nhân khác. Tất cả đều bị cách chức. Trong số đó có ba người bỏ đạo, một được tha về vì già yếu, còn lại 10 người bị thích tự, lưu đầy chung thân, 17 người bị án tử hình giam hậu. Riêng ông cai Lê Đăng Thị nhận án xử giảo, nhưng hẹn đến cuối tháng 10 mới thi hành. Từ đó (21.08.1860) ông bị đưa về giam ở Khám Đường[1] Huế,

Huynh trưởng xứng danh nơi ngục tù

Tại đấy, như ở Quảng Trị, ông cai gặp nhiều tín hữu. Tất cả sống rất gương mẫu, lao động và cầu nguyện với nhau sốt sắng. Ông còn dạy đạo cho một tù nhân trọng án vì tội trộm cắp cướp giật. Do là người có cấp bậc cao nhất, ông khích lệ các anh hùng đức tin cùng bị giam bằng lời nói và nhất là bằng gương trung thành, can đảm. Cũng do chức vụ ấy, ông phải mang một gông rất nặng và bị đánh đập tra tấn nhiều hơn mọi người. Nên dù còn trẻ trung sung sức, nhưng trước những cực hình dã man, ông đã ngã bệnh. Khi đó, ông chia sẻ với các bạn tù nỗi lo lắng lớn nhất của mình. Ông nói: “Tôi không rõ Chúa có cho tôi sống đến ngày tử đạo chăng? Tôi sợ bệnh tật làm tôi chết sớm. Than ôi ! Chắc vì tội tôi, nên Chúa từ chối cho tôi ơn trọng ấy.”

Bạn đường chí thiết chốn trời cao

Ngày 22.09.1860, theo lời Đức Cha Sohier Bình kể lại, người ta đến báo cho ông cai đội biết các quan đã quyết định thi hành án đối với ông. Dù đau nặng cả 3 hôm, không ăn uống gì được, nhưng nghe tin ấy, ông tràn ngập vui mừng và khỏe mạnh lại, xin dùng chút thức ăn và đi thăm từ giã bạn tù. Nhưng rồi ngày xử cứ bị trì hoãn nhiều phen, khiến ông sốt ruột mãi.

Trong thời gian đó, một linh mục cải trang đã đến thăm và giải tội cho ông. Hôm sau một thầy giảng tên Quờn cũng lén vào trao cho ông Mình Thánh Chúa.

Ngày 23.10.1860, được cho biết hôm sau nhất định sẽ ra pháp trường, ông hân hoan kêu lớn tiếng: “Vạn phúc! Vạn phúc! Tôi sắp được tử đạo!” Một trong những người bạn của ông đến thăm, tên là Đôminicô Biện, cho ông thêm một niềm vui nữa: “Tại nơi xử, anh sẽ thấy đứng bên cạnh tôi là một Linh mục. Lúc ấy anh hãy tỏ lòng sám hối để ngài ban phép giải tội lần cuối cho anh!”

Ngày 24.10.1860, đúng hôm bị hành quyết, cai đội Giuse Lê Đăng Thị thức dậy rất sớm. Ông đánh thức một tù nhân bị xử tử cùng ngày (vì tội trộm cướp nhưng đã học đạo với ông như nói trên), rồi đưa anh vào góc phòng giam. Sau thời gian dài tận tâm hướng dẫn người bạn dự tòng này, hôm nay ông nghiêm trang đổ nước rửa tội cho anh “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Thế là ông có một bạn đồng hành với mình đi vào quê hương vĩnh phúc.

Khi ông cai bị dẫn đi hành hình, viên quan đề nghị ông lần cuối cùng hãy xuất giáo, và hứa sẽ xin vua ân xá, nhưng ông quyết liệt khước từ. Bản án của ông được ghi như sau: “Lê Đăng Thị, Chưởng vệ, theo tà đạo, không chịu bỏ đạo thì y không thể tha thứ. Y bị kết án xử giảo cuối mùa thu.”

Tại pháp trường là chợ An Hòa (Huế), ông cai kính cẩn quỳ trên chiếu cầu nguyện. Một Linh mục là Cha Máctinô Nguyễn Văn Thanh (gốc An Vân, 1820-1848-1869), đứng lẫn trong đám dân chúng, ra dấu và giải tội lần cuối cho ông. Lý hình quấn một sợi dây vào cổ ông cai đội, rồi chia ra hai bên kéo thật mạnh cho tới khi chứng nhân Chúa Kitô tắt thở. Các tín hữu Phủ Cam tổ chức lễ an táng đông đảo tại xứ mình. Hiện nay hài cốt vị tử đạo còn được lưu giữ tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế (trong phòng thánh).

Thánh Giáo hoàng Piô X suy tôn ông Giuse Lê Đăng Thị lên hàng Chân phước ngày 02.05.1909 và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nâng ngài lên bậc Hiển thánh ngày 19.06.1988.

Ban Biên tập Lịch sử TGP Huế

———————————————–

[1] Khám Đường là nhà giam những người có án, nằm ở góc tây bắc Thành Nội, gần cửa Chánh Tây (coi như đối diện với nhà giam Trấn Phủ, gần cửa Chánh Đông, tức cửa Đông Ba). Xem J.B. Roux, Huế cổ – Vết tích đạo và đời do Lm Minh Anh dịch. Tổng Giáo phận Huế 2018, tr. 95-127. Trang 119 nói riêng về thánh Lê Đăng Thị và việc ngài hoán cải được một tù nhân. Khách của Khám Đường còn là Thánh Phanxicô Jaccard Phan, Thánh Anrê Trần Văn Trông, Đức Cha Dominique Lefèbvre, Đại diện Tông tòa Giáo phận Tây Đàng Trong cùng rất nhiều tuyên tín nhân dưới triều vua Tự Đức.