1/ Trong tiếng Do Thái, Giêsu–Jeshua là tiếng tắt của Jehoshua nghĩa là
“Giavê cứu chữa”, tên thiên sứ truyền đặt khi Đức Maria mang thai (x. Mt 1,21 và Lc 1,31).

Thực ra trước đó nhiều người đã mang tên này, như Giosuê, người kế vị Môsê đưa dân Israel tiến vào Đất hứa. Nhưng nơi Đức Giêsu Nadarét danh hiệu này biểu lộ ý nghĩa trọn vẹn là “Thiên Chúa cứu chữa”, cứu nhân loại khỏi tội lỗi nhờ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh.
Đức Giêsu được siêu tôn là Chúa, khi nghe Danh Người mọi gối đều bái quỳ thờ lạy (x. Pl 2,10). Chính Người đã dạy môn đệ dùng Danh Người để cầu xin Chúa Cha (Ga 14,13; 15,16; 16,23): Các tín đồ được gọi là “Kitô hữu” có nghĩa “thuộc về Đức Kitô”, hoặc là “những người kêu cầu Danh Đức Kitô”.
2/ Lòng sùng kính Thánh Danh có từ bao giờ? Lòng tôn kính này xuất hiện từ đầu, nhưng rầm rộ từ Trung Cổ, với phong trào sùng kính nhân tính Người, chú ý đến việc chiêm ngắm cuộc đời Người từ lúc Nhập thể, đến cuộc Thương Khó và Thập giá.
Các nhà giảng thuyết Đaminh và Phansinh khuyến khích các tín hữu cúi đầu khi nghe Danh Thánh Giêsu và cổ động lòng yêu mến Danh thánh qua việc khắc tên Giêsu trên thân mình, trên cửa nhà, trên các tường thành, dưới ký hiệu JHS – ba chữ đầu viết tắt của “Jesus Hominum Salvator” (Giêsu cứu chuộc nhân loại). Nhiều kinh Cho Hiển Vinh Danh Ngài 10 Hạnh Các Thánh đọc được sáng tác, đứng đầu phải kể Kinh cầu kính Tên Chúa Giêsu.
3/ Lễ kính này được ghi vào lịch Phụng vụ từ bao giờ?
Các Sách Lễ thế kỷ XV đã có thánh lễ ngoại lịch kính “Danh Thánh rất ngọt ngào Đức Giêsu”. Đến năm 1530, Đức Clêmentê VII cho phép dòng Phan sinh cử hành lễ này hằng năm vào ngày 14.01. Rồi nhiều dòng khác cũng xin phép mừng lễ đó trong lịch riêng.
Năm 1721, do lời thỉnh cầu của Hoàng đế Đức là Karl VI, Đức Giáo hoàng Innôcentê XIII mở rộng lễ này cho toàn Hội Thánh, ấn định vào Chúa Nhật thứ 02 sau lễ Hiển linh. Năm 1913, Đức Piô X chuyển sang Chúa nhật giữa ngày đầu năm và lễ Hiển linh.
Lm. Sta-nít-la-ô Nguyễn Đức Vệ