Đức Cha François Marie Henri – Agathon Pellerin (1813-1862) (tiếp theo)

08/07/2026

Vào năm 1855, mọi sự như năm trước, Đức Cha Pellerin tiếp tục an ủi và khích lệ các người kitô hữu đáng thương của ngài.

Một lá thư chung ký ngày 11 tháng giêng 1855 viết:

Mùa chay sắp bắt đầu. Đây là thời gian mọi tín hữu phải sám hối và tất cả mọi người cũng phải đi vào trong tinh thần của Giáo Hội. Mặc dầu  không thể thực hành tất cả các việc đó trong yên bình hoàn toàn, anh chị em cũng phải lợi dụng mọi ơn riêng của mùa chay như mọi tín hữu khác trên hoàn cầu. Điều đầu tiên phải làm đó là tránh xa mọi tội lỗi, vì dầu làm mọi việc lành và chịu mọi đau khổ, nhưng chúng là nguyên nhân của mọi sự dữ trong đời sống hiện tại và tương lai. Cuộc sống quá vắn vỏi để chạy theo những đam mê xác thịt, chạy theo những hưởng thụ không được phép hoặc tìm kiếm những của cải bất công. Theo lời Kinh Thánh: “Niềm vui trong phút chốc sẽ trở nên hình khổ muôn đời”. Thà chịu đau khổ, mất hết của cải và phải chết hơn là xúc phạm Thiên Chúa là Đấng phải được tôn thờ trên hết mọi sự. Trong thời gian đầy biến động này, một đức tin sống động giúp chúng ta chịu đựng mọi khốn khổ chóng qua, trong lúc phần thưởng thì bền vững và không cùng. Các tội lỗi gây ra bao nhiêu sự dữ này do người kitô hữu phạm phải còn lớn hơn tội của những lương dân. Bệnh tật, chiến tranh, mất mùa, đói kém và bao nhiêu nỗi khốn khổ khác, chung hoặc riêng, đều do tội lỗi gây nên và trong mọi thời một thế quyền chống lại Chúa và đạo luôn kéo theo những hình phạt như anh chị em đang chịu. Đừng than trách Chúa, đừng để mình chán nản! Hãy nhớ rằng anh chị em là  con cái Thiên Chúa là Đấng sẽ không chối bỏ chúng ta nếu chúng ta trở lại với Người. Hãy can đảm lên để khỏi mất phần thưởng đời đời”.

Ngày 5 tháng tư 1855, Đức Cha Pellerin gửi cho hàng giáo sĩ bức thư giáo huấn của ngài: In coena Domini” mà trong bốn, năm mươi năm nên như lề luật được mọi linh mục thừa sai và bản xứ rất tôn trọng. Đức Cha Retord đã thông truyền và dẫn giải cho hàng giáo sĩ của ngài nhiều lần. Đức Cha Caspar cũng đã thường xuyên nhắc lại trong các cuộc tĩnh tâm cho các linh mục bản xứ của ngài…

Mười ngày sau, Đức Cha Pellerin thông tri cho các tín hữu các miễn chuẩn ngài vừa xin được:

“1. Các tín hữu được phép làm việc xác các ngày Chúa Nhật và lễ trọng kể từ trưa, trừ các lễ Phục Sinh, Hiện Xuống, Giáng Sinh và  Mông Triệu.

2. Những người rất nghèo có thể xin cha sở cho phép làm việc cả sáng lẫn chiều các ngày Chúa nhật và lễ trọng, trừ 4 lễ đã kể trên.

3. Việc miễn chuẩn công việc tay chân không bao hàm việc miễn tham dự thánh lễ.

4. Tất cả mọi người đều buộc đọc các kinh ngày Chúa nhật, sáng, trưa và tối; những ai được miễn chuẩn kiêng việc xác đều buộc phải thực hiện càng nghiêm nhặt hơn để bù lại.

 Chúng tôi hy vọng rằng khi nhận được các sự miễn chuẩn này, anh chị em sẽ tăng thêm lòng sốt sắng yêu mến Chúa và chịu đựng những điều trái ý. Tháng năm gần đến, chúng tôi nhắc lại những lời khuyên nhủ anh chị em như thường làm là chạy đến khẩn cầu Đức Trinh Nữ”.

Ngày 9 tháng bảy 1855, Đức Cha Pellerin loan báo long trọng tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội:

Thật là một điều vui mừng và hy vọng biết bao! Gần 200 Giám mục tham dự  lễ công bố ngày 8 tháng 12 năm rồi, vào chính lễ Mẹ Vô Nhiễm. Hãy hòa tâm tình và lời ca tụng với toàn thể Giáo Hội trong dịp công bố tín điều này của Đức Mẹ là Đấng nay sắp tuôn tràn ơn lành cho chúng ta càng nhiều hơn nữa! Hãy tin tưởng nơi Mẹ! Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ có hòa bình. Nhưng ước gì mỗi người lo xa lánh tội lỗi, và tăng thêm lòng khiêm tốn! Nhiều nỗi khổ đau có là do một vài kitô hữu đầy kiêu căng không hiểu được: họ từ chối tùng phục và cứ để mình hay phê bình chỉ trích và nhục mạ  tha nhân”.

Tại đây, chúng ta không thể công khai mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm như các tín hữu khác thực hiện. Chúng ta sẽ cố hết sức bù lại:

“1. Làm một tuần cửu nhật kính Đức Mẹ và kết thúc vào lễ Mẹ Lên Trời Hồn Xác… Làm chung với nhau nơi nào có thể được!… Đọc một số kinh…

  1. Ngày lễ Mông Triệu mọi linh mục dâng một thánh lễ để ca tụng tôn vinh Đức Trinh Nữ và khẩn cầu Ngài trợ giúp. Chớ gì các nữ tu hiệp thông trong ý cầu nguyện này”.

 Lá thư đề ngày 2 tháng giêng 1856 kể lại những số liệu đạt được trong năm 1855. Có hơi trổi vượt hơn năm trước. Hơn 1.000 lần xưng tội của trẻ em chứng tỏ việc dạy lớp trẻ không quá bị ảnh hưởng. Có 799 người chịu phép Thêm Sức. Số rửa tội các trẻ thuộc gia đình công giáo bình thường, mặc dầu một nửa số này là do các chức và các giáo dân thực hiện. 68 người lớn chịu phép Rửa, trong khi 84 người đang học đạo. Đức Cha thấy số này còn kém và chưa đủ, ngài nói:

Các chức cần phải hoạt động nhiều hơn trong quá khứ. Con số các trẻ lương dân nguy tử được rửa tội (593) thấp hơn trong tất cả các Miền Truyền Giáo lân cận. Để nâng lên, cần phải tăng số lượng và công việc của những người lo rửa tội (baptiseurs). Chớ gì các linh mục lo giữ các qui luật (règlements) đã định: “Serva ordinem et ordo te servabit”! Tính kiêu ngạo luôn gây nên nhiều điều xấu; hãy chống lại tính này trong các tín hữu của mình! Chớ gì kẻ nào biết mình đang mắc lỗi, hãy lo xin lỗi và sẽ được tha thứ. Nhiều linh mục quá lơ là chẳng bao giờ gửi tờ trình hàng tháng; một số khác thì làm không đầy đủ. Cần sửa chữa lại trong lịch cho các ngày 15,16, và 17 tháng 5.

Trong thư viết ngày 15 tháng 12 năm 1855, Đức Cha cho biết số liệu hiện có của hàng giáo sĩ bản xứ:

Mặc dầu Tự Đức và các thuộc hạ làm gì, vào  lễ Mân Côi 1855, tôi đã phong chức 1 linh mục, 4 phó tế, 10 thầy chức nhỏ và một thầy chịu phép cắt tóc, nên bây giờ chúng ta có: 16 linh mục bản xứ, 5 phó tế, 15 thầy chức nhỏ, một thầy cắt tóc và khoảng 40 chủng sinh trong đó có những người học thần học, những người khác học latinh”.

Trong suốt những tháng đầu năm 1856, cuộc bách hại tôn giáo tăng gấp đôi rất khốc liệt: Đức Cha Pellerin phải hạn chế các cuộc thăm viếng các họ đạo. nhưng ngài lợi dụng  thời gian nghỉ ngơi bắt buộc này để dạy các thầy thần học và nâng cao tinh thần của các linh mục bằng những cuộc tĩnh tâm riêng trong vài ngày. Ngài nói với họ:

Hàng giáo sĩ, các nữ tu và các giáo lý viên là như đầu và con tim của Miền Truyền Giáo. Chúng tôi xác tín rằng tất cả sự hung bạo của những kẻ bách hại sẽ không đi đến chỗ diệt được đạo, bao lâu đầu và con tim vẫn vững vàng… Hỡi anh em là các linh mục, anh em là những vị chỉ huy trong đạo binh của Chúa. “Sicut sacerdos, sic est populus” (linh mục thể nào, dân chúng thể ấy). Anh em là những kho tàng và người phân phát hồng ân Chúa. Và những hồng ân đầy uy lực này phát xuất nhất là từ các bí tích, cầu nguyện và hãm mình. Nhờ việc dùng tốt những phương thế này, anh em sẽ quật ngã những kẻ thù lớn lao của anh em: đó là ba thù (triple concupiscence – những sự công danh, lợi lộc cùng là dâm dục sa đà). Nhất là chính nơi tòa giải tội anh em sẽ đi dến chỗ hạ được tính kiêu căng, hãm cầm lòng ham muốn và chế ngự nhục dục. Mọi chán nản, mọi nhu nhược về phía anh em sẽ dẫn đến chỗ nhiều linh hồn bị mất đi, hoặc chính  Miền Truyền Giáo bị huỷ hoại”.

Đức Cha đã sắp đặt sẵn sàng cho việc ngài có thể bị bắt. Ngài đã gửi một số tiền cho quan Micae Hồ Đình Hy, giáo lý viên lớn nhất (cậu cả) của tỉnh Thừa thiên để giúp đỡ những người tuyên xưng đức tin bị giam trong những nhà tù ở Huế. Cũng thế, ngài cũng đặt một phần các ruộng đất của Miền Truyền Giáo đứng tên ông. Về những gì liên quan đến việc quản trị thiêng liêng các tín hữu, ngài có thể an tâm tin cậy Đức Cha Sohier Giám mục phó của ngài…

Sau đó, quan Micae Hồ Đình Hy bị bắt ngày 8 tháng 11 năm 1856. Bản cáo trạng gán cho ngài tội đưa tàu chiến của Pháp đến, vì cho rằng chính con trai ngài kêu đến (con trai là Hồ Đình Giang, sau này làm linh mục là cha Tính), tội tiết lộ và phổ biến các lệnh kín của hội đồng và cứng lòng theo phái vô đạo của những người Datô.

Hồ Đình Hy đã cố gắng từ quan một cách vô ích: Tự Đức không chấp thuận. Nhà Vua nói: Đây là một nhân viên đã phục vụ trong 30 năm nay, chẳng bao giờ sai lỗi điều gì, trong lúc không ai trong các  vị tiền nhiệm của ông có thể lo chức vụ này hơn 3 năm.”

Nhưng khi nghe đọc bản cáo trạng, nhà vua giận điên lên, lập tức giáng chức và ký lệnh bắt và xử ông ngay.

Ngày hôm sau tòa án hình sự truyền cho ông viết tờ khai, rồi đánh đập ông dữ dằn, như một tên trộm thấp hèn… nhưng Micae Hy vẫn không lay chuyển.

Theo lời yêu cầu của ông, Đức Cha Sohier sai cha Thận đến giải tội và mang Mình Thánh Chúa đến cho ông (ngày 19 tháng 12). Rồi vào các ngày 15, 18 và 21 tháng năm 1857, Micae Hồ Đình Hy bị dẫn đi bêu xấu trong 4 khu vực của thành phố Huế, và phải chịu mỗi lần 60 roi ở hai quảng trường chính. Ngày 22 tháng 5 năm 1857, ngài chịu chém đầu tại chợ An Hòa.

Charles de Montigni đến Tourane vào sáng ngày 23 tháng giêng 1857 trên chiếc tàu “Marceau”. Ông đưa theo Đức Cha Miche, Đại Diện Tông Tòa Cambodge và các linh mục Fontaine và Roy. Chỉ còn lại đó tàu “Capricieuse”, còn tàu “Catinat” đã được đô đốc Guérin gọi về Macao. Vào tối ngày 23 tháng giêng có một cuộc thảo luận trên tàu Marceau giữa sứ giả đặc biệt của Triều đình Huế cùng nhiều đồng sự với Montigni. Đức Cha Pellerin được mời làm thông dịch viên cho cuộc họp đó. Đức Cha Miche và hai cha bạn của ngài cũng tham dự. Trong bản báo cáo của các quan chức ở Tourane gửi cho Tự Đức, họ nói đến sự hiện diện của 5 hoặc 6 vị giám mục, ai cũng mang thánh giá bằng vàng và trú trên hai tàu của Pháp. Ngày hôm sau Montigni gửi cho Đức Cha Pellerin lời ghi chú sau đây: Xin Đức Cha lưu ý các quan chức rằng nếu câu trả lời của Huế cho điều được ghi nhận hôm qua chậm trễ nhiều ngày, thì tôi thấy rằng mình phải đích thân đến Kinh đô với tàu “Marceau”, điều tôi thật rất tiếc bởi không có sự chấp thuận đặc biệt của Hoàng Đế”.

Mặc dầu Đức Cha Pellerin không bằng lòng điều lưu ý này, ngài vẫn đi với một viên sĩ quan và vài người lính đến dinh các quan chức ở Tourane để thông báo cho các quan điều đó. Sau bữa cơm trưa trên tàu Marceau, Đức Cha Pellerin mới biết được dự án của một hòa ước mới.

Hai vị Giám mục đoán trước sự thất bại của sứ mạng Charles de Montigni và nhất là những hậu quả tai hại từ thất bại này cho các thừa sai, các tín hữu và các công trình của họ, nên xin vị quan toàn quyền hủy bỏ những điều khoản từ 3 đến 7 hoặc hẹn lại để xin tham khảo thêm. Trong bức thư gửi cho Bộ trưởng ngoại giao Paris, nhất là trong thư ngày 19 tháng ba 1857, Montigni kể nhiều về các thảo luận đó. Ông tuyên bố với các giám mục rằng dầu ông là sứ giả của chính phủ để bảo vệ các lợi ích tôn giáo Đàng Trong, nhưng ông không thể cũng không muốn hy sinh tất cả với bất cứ giá nào, còn về lời hăm dọa tàn sát các thừa sai và các tín hữu cũng như huỷ diệt bất thần đạo công giáo, ông nói: “Tôi thì nghĩ ngược lại”.

Khoảng 10 ngày trôi qua trong kế hoạch trì hoãn, Triều đình Huế rõ ràng chống lại mọi giao ước với một lực lượng Âu châu và đã tránh mọi tiếp xúc. Nhà Vua để qua đi thời hạn mà không trả lời, Montigni dọa sẽ kêu đến chính phủ của ông và chắc chắn chính phủ này sẽ không để lưng chừng… nếu nhà Vua còn dám xử tử các thừa sai và Kitô hữu.

Ngày hôm sau, 07 tháng 02, Montigni rời Tourane trở về nhiệm sở đại sứ tại Thượng Hải và đến đó ngày 07 tháng 6. Đức Cha Pellerin vẫn luôn ở trên tàu Capricieuse và đến Hồng Kông ngày 13 tháng hai 1857. Ở đó Ngài nhận được một bức thư của Đức Cha Retord báo cho biết rằng cuộc bách hại tôn giáo có một chuyển biến đầy hăm dọa nhất cho đến tận Bắc Kỳ. Không thể trở lại Miền Truyền Giáo của mình được và theo ý kiến đồng thuận của nhiều bạn đồng sự, Ngài quyết định đi Pháp để trình bày tình trạng khốn đốn của các Miền Truyền Giáo Đông Dương …

   Ngày 10 tháng ba 1857, Đức Cha Pellerin rời Hồng Kông qua ngã Alexandrie và cập bến Marseille ngày 20 tháng 5.

Đáp trả sứ mạng của Charles de Montigni, Tự Đức sai xử Hồ Đình Hy (22 tháng 5 năm 1857) như chúng ta đã thấy và quyết định một lần dứt khoát đối với đạo công giáo trong vương quốc của mình. Ngay từ cuối tháng năm 1857 tất cả các chánh tổng, các lý trưởng đã nhận được lệnh lùng bắt các linh mục thừa sai và bản xứ.

Có lẽ không có sắc lệnh nào bách hại trước đây được thi hành cách khắc nghiệt như sắc lệnh ngày 7 tháng 6 năm 1857.

Napoléon III đã được báo cáo cho biết tình trạng bấp bênh tại Việt Nam.

… Sau khi biết rõ về vấn đề này do ông Cintrat (giữ văn khố và trước đây điều hành các vấn đề chính trị) báo cáo, Hoàng đế đã lập một ủy ban do bá tước Brenier làm chủ tịch, có ông Cintrat và đô đốc  Fourichon làm thành viên.

Trong thời gian này, nhờ Đức Hồng Y Bonnechose giới thiệu, Đức Cha Pellerin đã được hội kiến Napoléon III tại Biarritz và Hoàng đế  hứa giúp đỡ cách hữu hiệu, đồng thời đề nghị ngài thông tri yêu cầu của ngài cho Bộ Ngoại Giao …

…Ngày 30 tháng tám 1857, ủy ban đặc biệt này kết luận: “ Những âm mưu được lặp đi lặp lại chống các thừa sai, những kiều bào và những người được chúng ta bênh vực biện minh cho  những biện pháp sửa lỗi mà chúng ta được mời gọi thực hiện”.

Biết được vậy, Đức Cha Pellerin sửa soạn trở lại Miền Truyền Giáo của mình, mặc cho những lời khuyên và những dự báo xấu của các bác sĩ. Brest và Quimper thi nhau quảng đại dâng cho ngài những đồ trang hoàng đẹp nhất, cả những bình thánh và ân cần mời mọc ngài đến thăm. Khắp nơi người ta mời ngài nói chuyện và hội thảo về công cuộc truyền giáo của ngài. Nhưng điều dữ đang xảy ra tại Việt Nam đâm thấu con tim. Ngài nói: “Thật quá khắc nghiệt để ở lại ăn không ngồi rồi và xa cách đoàn chiên trong lúc trận chiến xảy ra khốc liệt nhất”. Thế nên ngài bắt đầu buồn đến chết được và xuôi tay…

Ngày 7 tháng 3 năm 1858, Đức Cha rời Paris có cha Antoine Marie Raynaud một thừa sai trẻ tháp tùng. Cuộc hành trình đi qua ngã Alexandrie và càng  gần tới đích, Đức Cha càng cảm thấy mình như sống lại. Tại Singapore người ta  biết được rằng Việt Nam đóng cửa và để tránh mọi phiền toái đáng sợ, hai người lữ hành đã đi thẳng đến Hồng Kông và cập bến ngày 22 tháng 4…

Mỗi lá thư từ Việt Nam gửi đến đều mang lại cho vị Giám mục đáng thương đang sống lưu đày một vài tin tức buồn bã nhưng vinh quang.

Ngày 28 tháng 7 năm 1858, Đức Cha Melchior Garcia San Pedrro, dòng Đa Minh Tây Ban Nha và là Đại Diện Tông Tòa Trung Đàng Ngoài (Tonkin Central) bị phân thây. Ngày 6 tháng mười 1858, xảy ra cuộc hành quyết cai đội Phanxicô Trung, người Phan Xá (Quảng Trị). Ông Trung đã xin sung vào quân tình nguyện đi đánh quân Pháp. Trước khi chấp thuận, các quan truyền ông phải lạy bàn thờ các thần hộ mệnh và đạp thánh giá, ông từ chối và bị kết án chém đầu ngay…

Ngày 27 tháng mười 1859, từ Hồng Kông Đức Cha Pellerin viết cho một kinh sĩ bạn thân của ngài:

 “Tôi chậm viết thư cho anh vì chẳng có gì hay để viết cả và tôi luôn chờ đợi hoà bình. Cho đến đây tôi đã đau khổ nhiều cách; tôi thấy cái chết rất gần bằng nhiều cách… đói, khát, chìm tàu; nhưng tôi có thể tâm sự với anh rằng chưa bao giờ tôi đã phải đau khổ như năm nay. Tôi tưởng rằng cuộc viễn chinh sẽ mang lại hoà bình nhưng kìa điều ngược lại đã xảy đến. Cuộc bách hại dữ dằn hơn, và cho đến nay tôi không thể vào lại Miền Truyền Giáo của tôi. Tất cả tín hữu và các đồng bạn của tôi bị săn lùng như những thú dữ, và có một số lớn các vị tử đạo. Có thể nói hoàn toàn thất bại cho đến hôm nay và người ta đổ cả thất bại đó lên đầu chúng tôi. Tất cả những gì tôi có thể nói, chính là người ta luôn hành động ngược lại những chỉ dẫn chúng tôi đã trình bày, khi người ta đã muốn nghe chúng tôi nói, vì thật hiếm khi người ta xin ý kiến chúng tôi. Phần tôi đã trở lại Hồng Kông, ngay khi thấy rằng mình chẳng có gì để làm  đối với cuộc viễn chinh và tôi không thể ở lại lâu hơn mà không phương hại đến việc mục vụ của tôi sau này”…

Bức thư cuối cùng của Đức Cha Pellerin (27 tháng 10 năm 1859) đã cho chúng ta biết cuộc bách hại các kitô hữu tại Việt Nam luôn luôn ngày càng lớn hơn… Đức Cha Sohier (23 tháng tám 1860) còn cho biết:

Các nhà tù ở Kinh đô đầy những Kitô hữu mà mỗi ngày người ta bắt phải chịu những nhục hình ghê gớm, vì họ không chịu bỏ đạo… Tất cả những thông thương đều bị ngăn chận vì người ta giữ rất nghiêm nhặt các nẻo đường và các lối đi. Chính vì thế mà anh em ở tại Paris biết rõ những gì xảy ra tại Tourane hơn chính tôi đang ở gần cảng này.”

Các bác sĩ ở Hồng Kông và các anh em trong Sở Quản Lý của Hội Thừa Sai thấy Đức Cha Pellerin xuống sức một cách rõ ràng liền thúc bách ngài đi nghỉ ở Manila, nơi các cha dòng Đa Minh nồng nhiệt mời ngài. Hãy để chính ngài kể lại cảm tưởng cho em gái ngài:

Anh vui hưởng ở đây (Manila) sự tiếp đón hết sức nồng hậu và quảng đại của các cha dòng Đa Minh. Người ta chỉ tìm cách làm cho anh thoải mái. Anh đi xe hơi, đi ngựa, đi tàu trong đất nước đẹp nhất thế giới, dân cư là những Kitô hữu thuộc hạng tốt nhất. Khắp nơi anh đi, người ta đều tổ chức lễ hội liên tục, có cả ca hát, hoà nhạc, rồi chuông vang. Dân chúng rất thoải mái… Cho đến các vùng quê xa xôi, có những thánh đường rất giàu có, nhưng không quá cao vì thường xảy ra động đất… Nơi nào người ta cũng muốn giữ anh lại…”

Sau khoảng năm sáu tháng, Đức Cha như trẻ lại, trở về Hồng Kông rồi khoảng giữa tháng 11 năm 1860 ngài đi Poulo-Pinang. Ngày 19 tháng 2 năm 1861, ngài viết:

Tôi đã rời Hồng Kồng vào tháng 11 vì ít có liên lạc với Đàng Trong. Ở Poulo-Pinang, tại Học viện chung, tôi có nhiều học trò. Việc trở về Miền Truyền Giáo của tôi trở nên càng không thể thực hiện được hơn bao giờ hết, cuộc bách hại quá dữ dằn. Tôi chỉ được tin từ một giáo phận ở Đàng Trong và một giáo phận khác ở Đàng Ngoài. Tôi không biết các linh mục, các chủng sinh, các nữ tu và các tín hữu của tôi thế nào rồi. Đức Cha Cuénot đã bị bắt và chết trong tù (14 tháng 11 năm 1861). Vừa mới chết, người ta ra lệnh chém đầu ngài.”

Ngày 2 tháng 11 năm 1861, Đức Cha Pellerin lên tàu “Mayotte”… có cha Desvaux và 4 chủng sinh người Việt tháp tùng đi Singapore và ghé lại Sở quản lý của các cha thừa sai tại đó.

Rồi ngài rời Singapore ngày 4 tháng 12 năm 1861 cũng trên tàu “Mayotte” và đến Học viện chung Pinăng ngày hôm sau trước sự tiếp đón đầy hân hoan của khoảng  60 chủng sinh Việt Nam…

Phần Miền Truyền Giáo Huế trong khoảng thời gian ngoài một năm mất chừng 8.000 tín hữu, hoặc vì đói hoặc vì bị ngược đãi, hoặc theo sau những khốn khổ phải chịu trong thời gian lưu đày hoặc trốn tránh, hoặc ít lâu sau khi về lại.

Ngày 24 tháng 10 năm 1860. Chân phước Giuse Lê Đăng Thị, cai đội ở Huế và là con của cai đội Tu ở Kẻ Văn (Văn Quĩ) bị xử giảo (thắt cổ) tại chợ An Hoà.

Chân phước Gioan Hoan, nguyên thư ký của Đức Cha Taberd và một trong những linh mục tốt nhất của Đức Cha Pellerin, bị xử trảm (chém đầu) tại Đồng Hới vào tuổi 63. Hơn một nửa đời ngài đã trải qua bằng cách trốn từ tỉnh này sang tỉnh khác, vừa dạy dỗ cho nhiều chủng sinh, trong số đó có 11 người làm linh mục.

Ngày 6 tháng giêng 1862, Đức Cha đặt viên đá đầu tiên xây dựng nguyện đường của Học viện chung, nơi tám tháng sau là chỗ ở cuối cùng của ngài ngay dưới chân bàn thờ.

Ngày 23 tháng giêng (1862) từ Poulo-Pinang, Ngài viết:

Nỗi khổ tâm thường ngập tràn lòng tôi. Điều đã được thực hiện tại Đàng Trong cho đến nay có lẽ là tất cả những gì buồn thảm nhất như chưa từng có. Những gì các tín hữu của chúng tôi phải chịu có lẽ không có mẫu trước trong lịch sử Kitô giáo và người ta vẫn chưa thấy được khi nào chấm dứt những khổ đau đó… Tôi sắp cố gắng gửi một chủng sinh về trong Miền Truyến Giáo của tôi, và nếu có cách nào đó, tôi cũng sẽ cố gắng lẻn về…”

Sau đây là bức thư cuối cùng của Đức Cha Pellerin đề ngày 4 tháng 7 năm 1862 và gửi cho cha Pernot:

Tôi xin trả lời thư của cha đề ngày 24 tháng 5  theo sức của tôi. Tôi đau khá nghiêm trọng vì cơn bệnh ăn dần ăn mòn và nhanh chóng đưa tôi đến mộ, nếu không thể ngừng. Các bác sĩ không thấy được đó là bệnh gì, nhưng tôi ngày càng yếu dần đi và không thể ăn gì cả v.v….  Người ta nói rằng tôi cần phải thay đổi không khí, nhưng đi đâu, nhất là bây giờ phải nghĩ đến việc trở lại Miền Truyền Giáo của tôi; cuối cùng, xin cho ý Chúa được thể hiện!

Trước khi đi Poulo-Pinang, Đức Cha Pellerin cảm thấy trước giờ cuối cùng của mình gần đến, với tâm hồn trầm tĩnh, ngài đã lo trước mọi chuyện. Sau đây là lời trối của Ngài:

“Nhân danh Cha….

Tôi đã sống và chết trong Hội thánh công giáo Rôma, và tôi hoàn toàn tùng phục Đức Thánh Cha, Vị đại diện Chúa Kitô trên trần gian.

Tôi cầu xin Chúa tha thứ cho tôi… Tôi trao phó mình tôi cho Người, nhất là nhờ sự trung gian của Mẹ lành, của các thánh Bổn mạng và các vị Tử đạo Đàng Trong.

Tôi xin tất cả những ai mà tôi đã làm gương xấu tha thứ, như tôi tha thứ cho tất cả những ai đã gây khổ cho tôi điều gì. Điều đã làm cho tôi khổ đau nhất trong cả đời tôi là sự không thành công của cuộc viễn chinh Pháp tại Đàng Trong và những bất hạnh do đó mà có cho đạo thánh trong các Miền Truyền Giáo tại Việt Nam. Tôi đã gây nên cuộc viễn chinh này, nhưng tôi chỉ làm theo lời khuyên của những người khôn ngoan và đặc biệt của Đức Thánh Cha và Bộ Truyền Giáo.

Tôi tuyên bố tất cả đồ dùng của tôi hoặc mang danh nghĩa của tôi đều thuộc Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong, tất cả những gì có thể thuộc về riêng tôi, hoặc tại Miền Truyền Giáo, hoặc tại các Sở quản lý hay đang ở với tôi, tôi xin cho Miền Truyền Giáo hết. Tuy nhiên tôi ao ước người ta gửi cho những người thân thuộc của tôi một vài đồ đạo đức hoặc những đồ tôi dùng, và nếu có ai giúp tôi trong những giờ phút cuối cùng, tôi xin thưởng công cho họ. Tôi cũng xin vị kế nhiệm tôi đừng để Thầy Phụng là người đã liều mạng sống mình để cứu mạng tôi phải sống cực khổ.

Tôi cũng xin vị kế nhiệm tôi công bố cho cả Miền Truyền Giáo đã được trao phó cho tôi biết rằng tôi đã không bao giờ ngừng yêu thương họ hết lòng, các thừa sai, các linh mục bản xứ, các nữ tu, các giáo lý viên và mọi Kitô hữu.

Tôi xin để tuỳ lòng bác ái của vị kế nhiệm việc làm lễ cầu cho linh hồn tôi, những lễ mà ngài xét thấy thích hợp. Thói quen của Hội Thừa Sai là làm lễ giỗ cho vị Đại Diện Tông Toà đã qua đời.

Tôi trao trách nhiệm cho cha Chính Desvaux, và nếu thiếu vắng ngài, cho vị thừa sai nào khác của giáo phận Bắc Đàng Trong thi hành lời di chúc này của tôi.

Làm tại Singapore ngày 15 tháng 6 năm 1862, Lễ Chúa Ba Ngôi.

François Marie Henri Agathon Pellerin

Giám Mục Biblos và Đại Diện Tông Toà Bắc Đàng Trong

Tôi xác nhận bản này hoàn toàn theo đúng bản gốc

Joseph Hyacinthe Sohier, Giám Mục Gadare.”

Để tránh mọi chậm trễ và rắc rối trong việc kế nhiệm ngài, ngài đã từ chức Đại Diện Tông Toà Bắc Đàng Trong.

Cha Martin và các vị phụ trách Học viện chung Pinăng cho biết:

Mọi ngưòi đều ca tụng lòng đạo đức của ngài, tính vui vẻ như thiên thần và sự từ bỏ của ngài”. Mặc dầu rất yếu, nhưng xem ra ngài ít đau đớn hơn khi ngài đến Pinăng và ngài đã tỉnh táo cho đến hơi thở cuối cùng. Vì ngài ngủ được rất ít, một trong những người canh bệnh bất thần đạt được việc làm cho ngài thiếp đi cả chục lần bằng cách nói: “Thưa Đức Cha, chúng ta đi ngủ” , nghe vậy ngài liền trả lời “Phải, đi ngủ” và con người thánh thiện bắt đầu đọc kinh Sub tuum và ngủ trước khi đọc xong kinh đó. Như thế đêm trôi qua từ kinh Sub tuum này đến kinh Sub tuum khác cho đến sáng.

Suốt cả đêm mồng 8 rạng mồng 9 tháng 9, Đức Cha không ngủ được chút nào; nhưng hôm sau ngài ngủ được cả buổi sáng. Thức dậy lúc 11 giờ, ngài gọi cha Martin và nói với cha rằng ngài xét thấy nên chịu phép Xức dầu thánh. Cha Martin  trấn an ngài và nghi thức được dời lại.

Vào lúc 4 giờ rưỡi, Đức Cha lại bảo đi tìm cha bề trên để xưng tội, sau đó cha bề trên ban Của Ăn Đàng và phép Xức dầu thánh cho ngài. Đức Cha đã đón nhận với một niềm tin sống động nhất và lòng đạo đức sâu xa. Vào lúc 5 giờ, Đức Cha lên cơn dữ dội và cha bề trên ban ơn toàn xá.

Ngày thứ bảy 13 tháng 9, Đức cha liên tục yếu dần. Vào lúc trưa lưỡi líu lại, và không thể nói rõ ràng, mặc dầu hoàn toàn tỉnh táo. Vào 4 giờ chiều, ngài hấp hối và thở hơi cuối cùng lúc 5 giờ 45 cách nhẹ nhàng không chút dao động.

Nghi thức tẩm liệm đau thương được cử hành cách long trọng nhất vượt mọi ước vọng. Đức Cha Bouchau với tất cả các thừa sai quanh vùng và các vị điều hành Học viện chung đều tham dự, tất cả gồm 12 vị.

Linh cửu ngài được đặt trước bàn thờ chính của nhà nguyện, nơi ngài đã đặt viên đá đầu tiên 8 tháng trước đây.

Lời loan báo cái chết của ngài hầu như không được biết đến mấy trong Miền Truyền Giáo của ngài: nhiều người trong số những người tận tâm kính phục ngài cũng đã chết vào thời gian đó, hoặc trong cơn lưu đày hoặc sau khi bị lưu đày trở về. Các chủ chăn cũng như tín hữu hoàn toàn ngụp lặn trong những lo lắng tái lập lại nơi ở cũ và hoàn toàn bị thiếu đi những điều cần thiết, bị lương dân gây phiền hà và thường không được các quan chức xét xử công minh trước bao nhiêu phản kháng.

Trong khoảng 12 năm sau cái chết của Đức Cha Pellerin, nghĩa là cho đến hoà ước Dupré (15 tháng 3 năm 1874), và nhất là trong những cuộc tàn sát mới năm 1884, việc tưởng nhớ đến Đức Cha phai mờ dần, đến nỗi thế hệ hiện nay hoàn toàn mất đi bóng dáng ngài…

Vào một buổi sáng đẹp trời, Hội đồng thành phố Sài Gòn đã biểu quyết đặt tên ngài cho một con đường ở Sài Gòn. Đường mang tên Pellerin trong suốt 60 năm (nay là đường Pasteur).

Rồi khi khánh thành ngôi trường của các Sư huynh Lasan tại Huế, Sư huynh Aglibert đáng nhớ đã muốn lấy tên Đức Cha Caspar đương nhiệm đặt cho trường. Vị này mạnh mẽ phản ứng lại và gợi ý cho Sư huynh hiệu trưởng đáng kính gọi cơ sở mới thiết lập là “Trường Pellerin”, điều này đã được thực hiện.

Thay vì dời hài cốt của Đức Cha Pellerin về Huế, tác giả những hàng này nghĩ rằng tốt hơn là nên làm sống lại hoặc gợi nhớ trong ký ức vị tiền phong khiêm tốn của thời kỳ anh hùng này. Hic est fratrum amator qui non cessat interpellare Deum pro nobis! (Đây là người yêu mến anh em, là đấng không ngừng cầu bàu cùng Chúa cho chúng ta)

(Trích dịch Adolphe Delvaux, Bulletin des Missions Etrangères, Année: 1936 & 1937, trongMột số tài liệu của các vị thừa sai Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris” do Lê Thiện Sĩ sưu tầm).    

Lm Stanislaô Nguyễn Đức Vệ