Đức Cha Joseph Hyacinthe Sohier (Bình) (1818-1876)

15/07/2026

Vị Giám mục thứ hai cai quản Giáo Phận Huế

 (1862-1876)

Sohier Joseph Hyacinthe chào đời tại Désertines (Mayenne) ngày 22.09.1818. Cậu vào học tại Tiểu chủng viện Précigné (Sarthe) và Đại chủng viện Mans.

Chịu chức phó tế, thầy gia nhập Chủng viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại ngày 21.02.1842, rồi thầy thụ phong linh mục ngày 21 tháng 5 sau đó và lên đường đi Miền Truyền Giáo Đàng Trong ngày 21 tháng 12 cùng năm đó.

Vào năm 1844, cha Sohier thuộc Miền Truyền Giáo Đông Đàng Trong và năm 1850 thuộc Bắc Đàng Trong, khi các giáo phận này được thành lập.

Ngày 18 tháng 9 năm 1850, Đức Cha Pellerin viết một lá thư cho biết rằng số các học viên của trường mới (chủng viện Di Loan) là 50, trong đó có 9 thầy thần học. “Đứng đầu chủng viện là một vị thừa sai tuyệt vời (cha Sohier) với một linh mục mới chịu chức năm này giúp đỡ”.

Vào hạ tuần tháng 9 năm 1850, Đức Cha Pellerin đến Bình Định gặp Đức Cha Cuénot và hai vị Giám mục đã chuẩn bị chia địa phận. Mọi sự diễn tiến xuôi chảy và đầu năm 1851, Đức Cha Pellerin ra lại địa phận mới của mình (Bắc Đàng Trong).

Số kitô hữu Bắc Đàng Trong hồi đó khoảng 24.000. Hàng giáo sĩ gồm hai thừa sai: cha Chính Sohier ở Di Loan và cha Galy ở Kẻ Sen; hơn 10 linh mục bản xứ mà chỉ có 6 vị mạnh khỏe.

Ngày 28 tháng 3 năm 1851, Tự Đức ban bố một sắc lệnh bắt đạo mới, các thừa sai bị lùng bắt. Cha Galy bị tố giác phải chạy thoát thân; nhà ngài trú tại Kẻ Sen bị đốt cháy…

Để tránh mọi sự bất ngờ phiền toái, Đức Cha Pellerin, nhân dịp năm Toàn xá, đã cấp bách chọn để tấn phong một vị Giám mục phó. Ngài đã chọn cha Chính Joseph Hyacinthe Sohier.

Do tông sắc ngày 2 tháng 8 năm 1850, cha Sohier đã được đặt làm Giám mục Gadare và là Giám mục phó của Đức Cha Pellerin .

Lễ tấn phong được tổ chức tại Di Loan ngày 01 tháng 8 năm 1851. Khách mời gồm bề trên mỗi cộng đoàn dòng tu (communauté religieuse), các giáo lý viên lớn (grands catéchistes) của mỗi tỉnh, hai giáo lý viên đứng đầu của mỗi giáo xứ, cùng với nhiều giáo dân thường nhiệt thành và tận tuỵ góp phần lo cho Miền Truyền Giáo. Mặc dầu có cuộc bách hại, nhưng những người được mời đều có mặt. Cũng thế hầu như tất cả các linh mục bản xứ đều tham dự nghi lễ.

Vào cuối năm 1853, cha Galy đã vĩnh viễn rời Kẻ Sen để tìm một nơi trú ẩn tại Đàng Ngoài trong những giáo xứ nghèo nhất và ít được biết đến nhất. Cha Choulex đến ở với Đức Cha Pellerin vào tháng 7 năm 1854, nhưng ngài khó thích nghi với khí hậu. Cả hai vị lo cho một cuộc tĩnh tâm chịu chức tại Di Loan đã vội vàng chạy trốn và bỏ lại tất cả. Cha Choulex trải qua 3 tháng làm mồi cho bệnh sốt, nằm trên nền đất trong một túp lều tại Bái Trời. Căn nhà ở Kẻ Sen mới làm đã phải bị phá huỷ lại. Đức Cha Sohier ở cuối vườn, gần một cộng đoàn nữ tu tại Kẻ Sen phía Bắc Miền Truyền Giáo. 

Từ năm 1857 cho đến năm 1862 khi có hoà ước giữa Việt Nam và Pháp, ngài phải sống một cuộc đời du cư do cuộc bách hại. Qua nhiều tuần lễ, ngài phải ẩn nấp trong một thân cây giữa rừng.

Ngày 13 tháng 9 năm 1862, Đức Cha Pellerin qua đời, ngài trở thành Đại Diện Tông Toà Bắc Đàng Trong.

Năm 1863, đô đốc Bonnard và đại tá Palanca đến Huế để phê chuẩn hoà ước đã quyết định năm trước, ngài lợi dụng cơ hội này để làm cho sự hiện diện của ngài cũng như của các linh mục được chấp nhận, vì các quan chức lâu nay vẫn bắt bớ.

Năm sau đó, ngài đi Pháp để chuẩn bị lập một học viện (collège) như vua Tự Đức xem ra ao ước, nhưng các quan chức cản trở.

Trở về lại Miền Truyền Giáo, ngài cho xây dựng gần nơi ngài ở một ngôi thánh đường được khánh thành năm 1867.

Cha Chính Dangelzer cho biết: Trong năm 1869, Đức Cha Sohier đã viếng thăm mục vụ cả Miền Truyền Giáo, có ít nữa 2 vị thừa sai trợ giúp, cùng với các linh mục bản xứ và các thầy giáo sĩ. Các vị đi khắp cả xứ mà không bị quấy rầy. Chính các lương dân cũng tỏ ra đầy tôn trọng và quí mến. Trong các giáo xứ, cuộc thăm viếng của Đức Cha là một đại lễ. Thường người ta buộc phải giữ vừa phải nhiệt tình của các giáo dân, để khỏi gây nên sự ganh tị của các nho sĩ. Đức Cha đã làm phép nhiều nhà thờ mới và ban phép Thêm Sức trong cả hành trình của ngài.

Mục đích của cuộc hành trình là khảo hạch học thuyết Kitô giáo. Đến giờ đã định, mọi người tề tựu trong thánh đường. Trên bàn thờ, đặt các thánh giá, các tượng ảnh và các bộ áo Đức Bà (scapulaires): những phần thưởng kích thích lòng ham muốn của các thí sinh. Đức Cha chủ tọa cuộc thi với sự trợ lực của cả hàng giáo sĩ. Những ai trả lời đúng tất cả các câu hỏi giáo lý và đọc thuộc các kinh nguyện không bị trục trặc thì được nhận là “nhà thông thái” (docteurs) và số những người này khá đông. Những ai  biết ít hơn, thì ở cấp thấp hơn. Còn những ai không biết cho đủ, thì bị đuổi khéo và lấy làm xấu hổ.

Sau cuộc thi là công bố những người thắng cuộc và trao phần thưởng. Không chỉ có những người trẻ tham gia cuộc thi, nhưng cũng có những người đã lập gia đình, và cho đến các cụ đã 80 tuổi. Các người tham dự đều vui mừng hân hoan, bởi nhờ lòng nhiệt thành của các linh mục bản xứ, các tín hữu trong giáo phận đã được dạy dỗ rất đầy đủ về học thuyết Kitô giáo.

Cha  Chính Dangelzer còn cho biết:

Năm 1869, số Kitô hữu trong giáo phận là 24.212 người… Nhân sự của Miền Truyền Giáo này gồm có: 1 Giám mục, 7 thừa sai người Âu, 37 linh mục bản xứ, 2 phó tế, 5 thầy chức nhỏ và 13 thầy đã chịu phép cắt tóc. Do sự giảm sút trợ cấp của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, số chủng sinh trước đây là 70, nay giảm  còn 30, tuy nhiên đó là không kể 24 chủng sinh đang học tại Học viện chung Pulo-Pinang. Các nữ tu người Việt là 360.”

Ngài đã tham dự Công đồng Chung Vaticanô I năm 1869-1870 và dự Hội nghị các Đại Diện Tông toà để nhìn lại Qui luật chung của Hội Thừa Sai Hải Ngoại…          

Trong bản báo cáo gửi về Hội Truyền Giáo Hải Ngoại Paris năm 1873, Đức Cha Sohier cho biết:

Giáo phận gồm khoảng 25.187 Kitô hữu trên tổng số 2 triệu dân… Các kitô hữu làm thành khoảng 112 họ đạo, trừ một vài họ đạo quá nhỏ, còn tất cả các họ đạo khác đều có một nhà nguyện ít nhiều sử dụng được. Trong toàn cả giáo phận chỉ có 5 nhà thờ khá vững chắc và khang trang để có thể cất giữ Mình Thánh Chúa. Các tân tòng nhiệt tâm thi nhau xây dựng các nhà thờ mới và chấp nhận nhiều hy sinh lớn lao để thực hiện, nhưng họ tiến hành chậm rãi vì nghèo khó.

Chủng viện của Miền Truyền Giáo có 33 chủng sinh, không kể 28 thầy đại chủng sinh, trong đó có 2 phó tế, 5 phụ phó tế, 4 thầy chức nhỏ và 13 thầy chịu phép cắt tóc.

Có 20 trường nam gồm 257 học sinh và hai trường nữ gồm 43 em. Hai cô nhi viện cho 272 cô nhi. Thêm vào đó có 2 tiệm thuốc và 2 trang trại. Nhân sự của Miền Truyền Giáo gồm 1 Giám mục Đại Diện Tông Toà, 7 thừa sai người Âu và 37 Linh mục bản xứ, 7 cộng đoàn gồm 350 nữ tu người Việt ”.

Rồi trong bản báo cáo năm 1874, ngài viết:

Tôi đã phong chức cho 3 tân linh mục bản xứ. Trong nhiều vùng thuộc giáo phận của tôi, các kitô hữu vẫn còn phải chịu những sách nhiễu lâu dài và dữ dằn vì Thập Điều (10 điều lệnh do Minh Mạng công bố và Tự Đức làm mới lại) mà họ bị ép buộc phải nghe đọc.

Vào tháng sáu, 6 chủng sinh từ Pinăng về đến Huế mang theo hộ chiếu do đô đốc Sài Gòn cấp cho. Mặc dầu vậy, hay đúng hơn là cũng vì vậy, họ đã bị bắt giữa đường và bị dẫn về kinh đô như những tù nhân, nơi đó người ta nhục mạ họ rồi họ bị kết án  mỗi người phải lãnh 90 roi vì đã nhờ cậy sự bảo vệ của người Pháp. Chúng tôi chỉ có thể giúp các thầy đó khỏi bị ăn đòn bằng cách nộp 108 quan tiền chuộc. Mặc dầu những sách nhiễu đó, chúng tôi cũng đã tổ chức các cuộc tĩnh tâm cho tất cả các linh mục như thường lệ, cử hành long trọng lễ Phục Sinh, tổ chức hoành tráng các cuộc kiệu Minh Thánh Chúa đang được cất giữ trong 8 nhà thờ.

Chuyến viếng thăm mục vụ mới đây được thực hiện trong 3 tháng. Khắp nơi tôi đều được đón tiếp với nhiều sự biểu lộ niềm hân hoan lớn lao. Chỉ có một nho sĩ trưởng làng đã nhục mạ chúng tôi mà thôi. Nhưng viên phó huyện trưởng biết được cách cư xử đó, đã hạ chức ông nầy và cho đánh đòn ngay giữa toà. Hành vi công bằng này đã an ủi nhiều các người có đạo và làm cho lương dân phải tôn trọng”.

(Còn tiếp)

Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ