
Tiểu sử 101 vị Thừa sai MEP đã phục vụ Giáo phận Huế (1850 – 1975)
Số 15. CHA JEAN NICOLAS RENAULD – ĐỒNG (1839 – 1898)
Sinh tại Andermy ngày 01.05.1839 trong một gia đình rất danh giá và công giáo sâu đậm, Jean-Nicolas Renauld học văn học cổ điển tại học viện giáo sĩ Sierk, nơi đó các thành quả văn chương, tài năng hội họa cũng như lòng đạo và sự vui tính của ngài nhanh chóng chinh phục được lòng quí trọng và tâm tình yêu mến của mọi người, cả thầy giáo lẫn học sinh. Sau 5 năm ở Đại chủng viện Metz, ngài thụ phong linh mục ở Rôma nơi ngài đã đến học bổ túc thần học. Giáo xứ Dornot gần Metz là nơi ngài khởi sự làm việc mục vụ; ngài chỉ ở đó một năm: tâm hồn tông đồ của ngài cần một cuộc sống đòi hỏi nhiều hy sinh hơn Một bệnh cổ họng suýt gây phương hại thành quả mục vụ của ngài, có lẽ cả đến việc buộc vị linh mục trẻ phải ngồi không, nhưng đây lại là một cơ hội để ngài có một quyết định anh hùng: ngài khấn làm thừa sai, nếu Chúa ban lại sức khỏe cho ngài. Ngài được nhậm lời và đã giữ lời. Sau những cuộc giã biệt xé lòng, ngài rời xa gia đình để đến sống một năm tại Chủng viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris và ngày 26.11.1867, ngài lên tàu đi Bắc Đàng Trong.
Đó là thời kỳ vua Việt Nam là Tự Đức muốn thành lập tại Huế một trường cao học, nên đã xin Đức cha Gauthier, Đại diện Tông tòa Nam Đàng Ngoài đi Pháp chiêu mộ các kiến trúc sư và kỹ sư để phục vụ đất nước và dạy trong trường đó. Cha Renauld đã theo học những môn đặc biệt tại Paris; đàng khác kiến thức của ngài thích hợp để chu toàn một công việc như thế. Ngài đi Huế cùng với Đức cha Gauthier, cha Montrouziès và một bác sĩ y khoa. Nhưng khi các vị giáo sư đến với những dụng cụ và sách vở cần thiết cho việc thiết lập ngôi trường đã dự phóng, các nho sĩ đầy thù hằn và ganh tị liền ngăn cản việc thi hành ý định đã được vua Tự Đức ấp ủ.
Cha Renauld không hề hối tiếc về điều đó: việc mục vụ lo các linh hồn lôi cuốn ngài cách bất khả kháng. Ngài thiết lập cách xa Huế một quãng và điều hành trong nhiều năm ngôi trường-trang trại (ferme-école) Viện Dục Anh, nơi đó ngài giáo dục những tập quán đời sống kitô hữu cho biết bao cô nhi khổ cực; là kỹ sư, chính ngài đã vẽ tất cả các sơ đồ và điều hành việc xây dựng các tòa nhà của trang trại này.
Sau khi quân Pháp chiếm Huế, ngài trở thành vị tuyên úy quân đội của đoàn quân viễn chinh. Việc ngài thông thạo tiếng bản xứ, uy thế ngài có được trong xứ sở này làm cho ngài được đề cử làm thông ngôn trong các cuộc thương thảo chuẩn bị hòa ước.
Trong tư cách đó, ngài đã thực hiện những việc phục vụ tuyệt hảo cho đô đốc Courbet là người rất quí trọng và yêu mến ngài. Một ngày kia, khi tham dự hội đồng, ngài để ý một viên thuyền trưởng mang cái tên gợi lên cho ngài những kỷ niệm xa xưa của thời thơ ấu: đó là đại úy Maigret, bây giờ đã là phó đô đốc, là người đã thường xuyên lui tới lâu đài Malavillers. Trực thuộc Andermy là cái nôi của gia đình ngài.
Hai người đồng hương nhận ra nhau và ôm chầm lấy nhau trong nước mắt.
Đô đốc Courbet cảm động dừng hội nghị một lúc để cho phép hai người Lorraine nói chuyện với nhau lâu hơn về nơi sinh trưởng. Thật là một niềm vui dịu dàng cho con tim của vị thừa sai đáng thương.
Lòng tận tâm đối với quê hương suýt trở thành một điều bất hạnh cho ngài.
Trong cuộc chiếm đóng, những biện pháp an ninh rất nghiêm nhặt được quyền hành quân sự thực hiện để ngăn cấm người ta tới gần thành. Cha Renauld không biết lệnh cấm đó hoặc nghĩ rằng mình không phải giữ luật đó vì ngài có nhiệm vụ thông dịch, nên một ngày kia ngài chèo thuyền trên con sông bao quanh tường thành; lính canh Pháp nổ súng và viên đạn xuyên qua đôi má của ngài. May thay vết thương không nặng, và ít lâu sau lành lặn, nhờ những chăm sóc tận tình của một người đồng hương xứ Metz, bác sĩ trưởng Mangin.
Uyên bác, lịch sự, dễ thương, đạo đức, ngài có tất cả để chinh phục các tâm hồn, và nhiều sĩ quan vẫn giữ những mối giao hảo đối với ngài chứng tỏ ngài được mọi người rất quí trọng.
Sau đó cha Renauld được bổ nhiệm làm bề trên Đại chủng viện Huế; chính đó là nơi ngài đã tận dụng sức lực cho nghiệp vụ tông đồ, hết mình phục vụ các người trẻ được giao phó cho ngài, bằng những kho tàng khôn ngoan và kinh nghiệm có được suốt một cuộc đời thật phong phú kèm theo những thử thách. Đã 3 năm, chính quyền Pháp tưởng thưởng các việc phục vụ quê hương của vị thừa sai bằng huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh; sự khiêm tốn của ngài thật lớn lao đến nỗi khi nhận được phong bì báo tin huy chương này, ngài đã chẳng nói một lời với hai cha đi theo và ngài cấm gia đình không được loan truyền tin đó tại Andermy. Vị thừa sai già đi nhanh chóng; vị linh mục tốt lành kiệt sức, bị thiếu huyết (anémié); khoảng cuối tháng hai vừa rồi, ngài đi Hồng Kông với hy vọng một khí hậu mát mẻ hơn sẽ phục hồi sức khỏe đang bị nguy hiểm nặng nề cho ngài. Dọc đường ngài xuống sức và buộc phải dừng lại Đà Nẵng, tại đó ngài vừa qua đời vì suy yếu dần, có hai người anh em trợ giúp.
Những hàng trên đây phần lớn rút ra từ bản tiểu sử được cha Lacombe, giáo sư học viện Saint-Fourier ở Lunéville đăng trong Semaine religieuse của địa phận Nancy. Chúng tôi nghĩ phải thêm các chi tiét sau đây được cha Izarn cung cấp, ngài là người đã kế nhiệm cho Renauld quá cố làm bề trên Đại chủng viện Huế.
Chính vào ngày thứ Sáu, 11.03, là ngày Giáo Hội mừng lễ kính Tấm Khăn Liệm, cha Renauld đã tắt thở nhẹ nhàng, không dằn vặt như một cây đèn hết dầu. Ngài đã làm việc 31 năm trong miền truyền giáo, mà 15 năm trong tư cách bề trên Đại chủng viện.

Nguồn ảnh: irfa.paris
Gương mặt của người anh em này quả là một gương mặt thật độc dáo. Vóc dáng cao lớn, các đường nét lộ rõ, đôi mắt nhanh nhẹn và sâu, trán rộng, vòng tóc trang điểm đầu sói và bộ râu trắng đẹp đẽ làm cho ngài mang vẻ oai phong của một trong những gương mặt thầy dòng hay giám mục thời trung cổ, được các bậc tổ tiên đã vẽ rất rõ nét trên khung cửa kính màu của các nhà thờ chính tòa.
Tôi sẽ không đi đến chỗ nói rằng cha Renauld là một thượng quan; các thượng quan hiếm lắm. Cha Renauld là một người có tầm hiểu biết rộng lớn và tốt đẹp, kèm với một sự khiêm tốn làm nổi bật đặc biệt các điều đó. Các người anh em gần gũi ngài đôi khi bị cám dỗ cho rằng sự khiêm tốn đó là quá đáng. Quả thực, nó làm tê liệt hành động bên ngoài của ngài và nếu cha Renauld là người liên kết một cách tinh vi các tài năng rất đa dạng đã không tung mở trọn vẹn theo đúng mức độ, chính là vì không thể chịu đựng được sự tầm thường và ngờ vực cách không đáng về sức lực của ngài, để chu toàn những công trình đã hoàn thành với những phương tiện hèn kém có được trong miền truyền giáo. Ngài thích cứ ở trong vai trò khiêm tốn của mình và làm việc với hết năng lực tâm hồn cho việc thánh hóa và công trình chủ yếu đã được trao phó cho ngài: đó là đào luyện hàng giáo sĩ bản xứ.
Nhưng công cuộc này cũng vậy, ngài đã yêu quí biết bao! Không phải ngài cần phải nhớ lề luật của Hội Thừa Sai thân yêu của chúng ta buộc chúng ta phải đặt hàng giáo sĩ bản xứ lên hàng đầu trong các lo lắng của chúng ta, Impendam et super impendar ipse pro animabus vestris (2 Cor 12,15) (Tôi tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi vì linh hồn anh em), ngài có thể nói như thế cho các chủng sinh mỗi ngày và mọi lúc. Nhưng đáp lại, ngài muốn các học trò của ngài và nhất là những người được ngài hướng dẫn đặc biệt, có được một ý niệm lớn lao, rất lớn lao về sự cao cả của ơn gọi. Một đàng chính ngài bị xúc động trước sự cao cả của chức linh mục và những trách nhiệm khủng khiếp kèm theo, đàng khác, nghiêm khắc với chính mình, một nhân đức khắc khổ và một sự đều đặn lớn lao trong cuộc sống, ngài không để dàng bằng lòng mở toang các cánh cửa của cung thánh. Có nên phàn nàn về điều đó không? Có được phép nghĩ rằng có lẽ ngài đã giữ các cửa đó hơi bị khép kín? Điều chắc chắn, đó là cùng với tuổi tác và dày kinh nghiệm, ngài đã sửa đổi cách nhìn. Nếu trong những năm đầu làm bề trên Đại chủng viện, quyền uy có lẽ là hiền phụ, nhưng kiên vững đến không xiêu lòng, mang lại cho diện mạo tinh thần của cha Renauld một cái gì đó hơi cứng rắn, thì trong những năm cuối, tất cả những sự dồi dào của con tim ngài xuất hiện như giữa ban ngày và chính với lòng dịu hiền của một người mẹ, ngài đã hướng dẫn bước vào con đường trọn lành những người trai trẻ với con tim hay thay đổi, nhưng đầy thiện chí để họ trở thành những phụ tá rất quý báu cho miền truyền giáo. Biết bao linh mục đã trải qua dưới những cánh tay mạnh mẽ của ngài, giỏi vận dụng cây búa và cái kéo để làm cho các tâm hồn kitô hữu nên những viên đá được tuyển chọn cho Giêrusalem trên trời? Tôi không biết điều đó và đàng khác cũng không quan trọng. Ngài đã làm việc như một tay thợ lành nghề trên những chất liệu đã dọn sẵn với lòng hết sức chăm lo ở Tiểu chủng viện, nhưng vẫn còn chưa thành hình dạng. Và nếu sự khiêm tốn của ngài không ngăn cản, ngài đã có thể nói khi qua đời, xét đến các hoàn cảnh và các khó khăn đã vượt thắng: exegi monumentum (Horace, Odé, Livrre III, 30) (tôi đã hoàn thành một công trình bất hủ)”.
Cha Lacombe viết vào cuối bản tiểu sử: “Tin về cái chết của cha Renauld đã gây ra ở Andermy và Malavillers niềm xúc động sâu xa. Nhiều người đã biết ngài hồi còn là linh mục trẻ và đã ghi nhớ về ngài kỷ niệm đầy cảm xúc và tôn kính; ngày ngài dâng lễ lần đầu tiên trong nhà thờ giáo xứ nhà, ngài xuất hiện tỏa sáng, đầy xúc động bởi hồng ân Thiên Chúa đã ban cho ngài, đến nỗi những giáo dân trong xứ đã được đánh động thật nhiều và hôm nay họ vẫn nhắc đến kỷ niệm đầy xúc động đó.
Ngày thứ năm 21.04.1898, cha xứ Andermy, với nhiều anh em vây quanh, đã dâng một thánh lễ long trọng cầu cho linh hồn người quá cố khả kính được an nghỉ. Để nhắc lại cho các người đồng hương hai mối nhiệt tình lớn lao phủ đầy con tim không chia sẻ của vị tông đồ, quốc kỳ nước Pháp xếp li phủ trên nấm mộ bên cạnh áo các phép và dây stola; thập tự của Bảo Quốc huân chương nằm trên những tấm màn tang, trên đó có nhiều huy chương Hoàng Đế Việt Nam đã tưởng thưởng cho ngài.”
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ biên tập